Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

CUNG CHÚC TÂN XUÂN QUÝ TỴ 2013 AN KHANG THỊNH VƯỢNG

LY RƯỢU MỪNG    
     KÍNH THÂN CHÚC QUÍ VỊ
XUÂN QUÝ TỴ 2013  VẠN SỰ NHƯ Ý




Từ Dòng Sông Ghép: Hiện Tượng Tách và Nối Trong Thế Giới Văn Thơ Của Hồ Dzếnh - Lưu Nguyễn Đạt, TS, LS

January 25, 20130 Bình Luận
Có hai cách mến chuộng nhà văn và nhà thơ Hồ Dzếnh. 
Cách thứ nhất là biết và quý mến ông trong cuộc sống hằng ngày, hoặc gặp gỡ ông qua những giai đoạn thăng trầm biến đổi trong xã hội và đời sống riêng tư.  Đó là sự gắn bó tâm tình của gia đình thân thuộc, của bạn bè đồng niên, đồng cảnh với ông.  Những vị này đã từng trực tiếp quý mến ông, nhắc nhở tới ông qua câu chuyện tâm giao, trong trí nhớ và kỷ niệm chung. 
Cách thứ hai là tìm hiểu và kính trọng ông qua tư tưởng gửi gấm trong tác phẩm của ông.  Đó là con đường giao cảm của người đọc thanh thản, vô tư.  Của người tìm tòi tài liệu và điều nghiên văn học chân chính, khi có dịp trực diện với tác phẩm, với thế giới sáng tạo của ông.  Và đó cũng là con đường tinh thần của bài văn luận này.
Thế giới sáng tạo của nhà văn Hồ Dzếnh được sắp xếp theo một kiến trúc tổng hợp, trong đó những cơ cấu hình thành được tách-nối và lồng vào một trật tự diễn tiến cho phép sự dị biệt và tương đồng được bổ xung lẫn nhau.  Phép sáng tạo lồng ghép truyện trong truyện, tích trong truyện, hoặc kịch trong kịch, thơ trong thơ đã được văn hào Pháp André Gide gọi là “mise en abyme”,[1] một thành ngữ mới do ông sáng chế để tả “phép cấu tạo lồng ghép theo chiều sâu” trong một tác văn nói chung.  Theo cách thức sáng tạo này, những truyện, tích, hoặc đoạn văn thơ được tách-nối và lồng ghép vào nhau, ngay trong lòng tác phẩm để thành lập một thế giới đa nguyên, đa diện, càng lúc càng phức tạp, càng lúc càng sâu thẳm, tăng triển phản ảnh soi lồng:[2]  Những tấm gương chỉ đạo đã được ghép trong tác phẩm, một mặt để bổ xung ánh sáng và linh động hoá toàn bộ tác phẩm và, mặt khác để phản ảnh tư tưởng và nhân sinh quan mở rộng của tác giả.  
Trong Chân Trời Cũ,[3] dòng sông Ghép của “Ngày Gặp Gỡ” (CTC. 31-38), không những là dòng sông định mệnh mà còn là cái “mẫu” mở đầu cho “phép cấu tạo lồng ghép theo chiều sâu” trong thế giới văn thơ của Hồ Dzếnh.  Trong truyện ngắn này, tác giả đã tách-nối truyền thống và thân phận con người; tách-nối tư truyện và tư tưởng xã hội, qua những “mẫu sống”, vừa dị biệt, vừa tương đồng, mà sự “gặp gỡ” chỉ có thể thực hiện được trong một nhịp độ sáng tạo luân biến.  Theo chiều hướng đó, dòng sông Ghép chia kiến trúc và trật tự sáng tạo của tác phẩm thành hai thế giới: một thế giới mở và một thế giới khép trên ba phương diện: (1) ngoại cảnh; (2) cơ cấu kinh tế, xã hội; và (3) nội tâm.
1. Thế Giới Mở
Thế giới mở tại ngoại cảnh của “Ngày Gặp Gỡ” có tính cách bao quát, vô định và di động.  Địa lý của thế giới mở vừa đa nguyên, vừa đa trạng, với nhiều trung tâm và địa danh khác nhau làm bối cảnh: Trung Quốc, Quảng Đông, Thanh Hóa; nhiều cơ sở giao thông; nhiều cảnh vật xa lạ, phi thường.  Những địa danh điển hình này còn được “ghép” thêm với những hình ảnh đặc biệt đã từng làm đề tài cho nhiều bức họa nổi tiếng hoặc những tích vịnh cảnh bất hủ trong văn chương cổ lục lưu truyền lại, như cảnh “hoàng hôn của Giang Tây, Hồ Bắc”.  Ngoại cảnh chung quanh kẻ giang hồ đôi khi chỉ cần được tả một cách rất phóng khoáng: mơ hồ và vô định như “gió trùng dương”, hoặc bát ngát như “không gian” bao phủ.  Một thế mở vô lượng, vô bờ bến.
Ăn khớp với ngoại cảnh mông lung bao quát đó, kẻ giang hồ cũng dấn thân vào một nếp sống cởi mở, di động và vô định tương ứng.  Kẻ giang hồ giữ một vị trí kinh tế xã hội của “người lữ hành”–di động, nay đây mai đó, sống tha phương cầu thực, nên vừa tháo vát, vừa ứng dụng với mọi biến đổi bên ngoài, như cập nhật hóa với những “bữa cơm lưu lạc”, cốt để sống còn.  Đó cũng là môi trường của kinh dị bao vây “người khách lạ có chiếc trán rất lạ”; cũng như của bất trắc và nguy biến từ “lưỡi dao nhọn như lá bùa hộ mệnh” và “tiếng súng bắn cướp”. 
Về mặt nội tâm, kẻ lưu lạc tha phương cầu thực thường tỏ vẻ rộng lượng và “hùng cường” để nuôi lớn mãi chí nguyện giang hồ và luân lưu theo “mạch sống” lớn.  Họ cũng luôn luôn ở vào thế ly tâm vì đã trốn bỏ quê hương xứ sở, trốn bỏ những giây ràng buộc bản thân với trật tự, với thực tế.  Vì những lẽ đó, người giang hồ thường thấy bơ vơ, lạc lõng.  Nội tâm của họ được đo theo chiều sâu của hoài cảm, khi họ “chạnh lòng khóc nước”, hoặc theo chiều rộng mênh mông của mộng tưởng gắn liền với hoang vu và tiềm thức khao khát tự do vô biên.  Những hình ảnh, điển tích được nhắc tới trong bài thơ cổ với đoạn “Uỵt loọc, vú thày sướng mủn thín… (nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên…) đã được lồng ghép trong truyện “Ngày Gặp Gỡ” để vọng lại nỗi cô đơn truyền kiếp của những tâm hồn lạc lõng luân hồi.
2. Thế Giới Khép
Thế giới khép từ ngoại cảnh của “Ngày Gặp Gỡ” có tính cách thu hẹp và tĩnh.  Hiện tượng thu hẹp vào mức độ thực tế, rõ rệt, đơn sơ và bất biến của làng Ngọc Giáp thuộc tỉnh Thanh Hóa, của dòng “sông Ghép”, trong một khung cảnh lân cận, gần gũi và “tầm thường”.  Sự thu hẹp địa thế cũng được diễn tả bằng hình thức vây quanh của hàng rào tre thưa, mỏng mảnh, cốt để phân định những đơn vị gia cư ẩn núp dưới nóc mái tranh sơ sài, nhạt nhoà trong lối xóm hạn hẹp.  Sự thu hẹp địa thế còn thu gọn vào vị trí trơ trọi của cái giường tre ọp ẹp, trong gian nhà nhỏ, như khép chặt vào điểm tựa cần thiết của một đời sống tối thiểu, đơn giản nhất. 
Thế giới khép còn có tính cách trầm lặng giữa cái tĩnh mịch trong đời sống và nội tâm của dân làng cần mẫn.  Cái “cõi yên lặng” này phản ảnh một đời sống u uất và tầm thường của dân làng bị gò bó trong hoàn cảnh xã hội túng thiếu, cơ cực.  Muốn sống còn trong kiếp phận nghèo túng đó, người dân làng phải nhẫn nhục, chịu đựng mọi cảnh phũ phàng, cay đắng.  Họ là những “gương cần mẫn”, những tâm hồn lặng lẽ, cam phận và kiên trì trong khổ đau và nhẫn nại.  Thế giới khép về mặt nội tâm cũng là cái thế giới kín đáo và thơ ngây của người con gái che đôi má ửng hồng trước con mắt soi mói của người khách lạ, hoặc ngượng ngùng “cười qua hai làn môi kín đáo khép lại.”  
3. Thế Giới Ghép
Nhờ có chiếc đò qua sông chở khách mà dòng sông “Ghép” đã trở thành khung cảnh và tác lực của sự “Gặp Gỡ”.  Hai thế giới mở và khép, trước đây tách biệt theo hai chiều hướng trái ngược nhau, nay nhờ chuyến đò định mệnh đã tiếp nối lại để hội nhập với nhau: Thế giới mở của trạng thái kỳ lạ, xa cách mà kẻ giang hồ đem tới trước đây đã hoà hợp, tiếp nối với thế giới khép của những dòng tư tưởng êm dịu và kín đáo nơi người con gái, khi “lần đầu tiên trong đời”, cô đã chịu nổi cái nhìn sắc sảo của người đàn ông kia…Kẻ giang hồ đã đổi cách xưng hô từ “Ngộ” thành “Tui” và người thiếu nữ lái đò cũng đã đoán được “Nị là cô”.  Để tìm hiểu nhau, đôi khi ngôn ngữ trở thành cử chỉ, thành động tác diễn tả trực tiếp tư tưởng úp-mở: “ngón tay…chỉ thẳng vào thiếu nữ”; hoặc “một thoáng cười chạy qua môi” đã làm dịu hẳn vẻ hung tợn của người khách lạ.  Như vậy, từ dòng sông Ghép, truyền thống xa lạ và tư tưởng phóng khoáng của giới giang hồ đã chuyển biến để nhập vào một khung trời cố định, trong đó con người thu hẹp mình lại để xây dựng một nền tảng vững chắc cho tập thể gia đình, cho nòi giống.  Dòng sông định mệnh đó đã “ghép”, không những hai thân phận, mà còn nối lại hai nếp sống, hai thế giới sinh tử khác nhau thành một dòng “ghép” máu mủ, mà tình nghĩa là keo sơn chắp nối vào trật tự xã hội.
Thế giới mở của người giang hồ từ Quảng Đông xuống được ghép thêm với những cảnh sống thăng trầm của người Cha.  Truyện “Con Ngựa Trắng của Ba Tôi” (CTC. 54-71) đánh dấu sự bành trướng theo chiều cao của thế giới mở mà người chủ gia đình tiếp tục tạo dựng qua nhiều năm trời lăn lộn với cuộc sống tha hương.  Sự bành trướng này khởi đầu bằng sự thủ đắc một thứ tiếng “ngoại quốc” khác, khi người Cha trở nên “thạo” tiếng Pháp, rồi làm thông ngôn cho một viên chức nhà đoan.  Thế giới của uy quyền đã mở cửa rộng rãi để đón tiếp cái cơ nghiệp càng lúc càng thịnh vượng, càng thăng tiến.  Giấc mơ tha phương cầu thực của người lưu lạc giang hồ nay đã trở thành những cuộc kinh doanh đắc lợi.  Nhờ vậy, thế giới mở của sự thịnh vượng đã đưa người giang hồ tới một vị trí cao điểm trong xã hội.  Người Cha cưỡi con ngựa trắng tiêu biểu cho cái thế giới vừa di động, vừa cao sang đó.    
4. Cấu Trúc Di Tâm/Biến Dạng
Thế giới mở và di động đã có lúc chùng lại thành những cánh cửa he hé, ngập ngừng, khi người Cha trở thành già yếu, bệnh hoạn.  Qua truyện ngắn “Trong Bóng Rừng ” (CTC. 46-53), hình ảnh cuộc sống hùng vĩ cao siêu trước đây của người Cha, nay mờ dần vì bị ghép với những khía cạnh khiêm tốn hơn.  Trong giai đoạn thất thế này, những cuộc hành trình phóng khoáng trước đây của người Cha lại được thay thế bằng những giấc bay bổng trong mộng tưởng, hoặc trong cảnh đi mây về gió cùng với nàng tiên nâu, theo mây khói của thuốc phiện.
Có lúc thế giới mở trong Chân Trời Cũ đã di tâm và trở thành những vòng cung nhỏ bé.  Đó là những đơn vị sống tương tự, so với người Cha, nhưng kém cỏi hơn, kém cả lượng lẫn phẩm.  Đó là thế giới méo lệch của Chú Nhì, của Anh Cả và của Em Dìn.
Trong cốt truyện mang tên “Chú Nhì” (CTC. 72-81), nhân vật này là hình ảnh thu hẹp, méo mó của kẻ giang hồ, cũng xuất xứ từ vùng đất xa xôi, bấp bênh kia, bỗng dưng đột nhập nơi đây để khảo tiền.  Đó là cách tha phương cầu thực chớp nhoáng ăn dựt, nhỏ nhoi hơn những bữa cơm lưu lạc của kẻ trượng phu hiên ngang lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu.  Cũng là một thứ cây trong rừng, nhưng Chú Nhì keo quắt hơn, tầm thường hơn, và tai hại như thứ cây tầm gửi, ăn bám vào đời sống khó khăn của kẻ khác. 
Tiện đây, tưởng cũng nên nói qua về cách xử dụng một số từ ngữ đầy miệt thị, như “Chú Ba Tầu”, “Chú Khách”, mà tác giả của Chân Trời Cũ cũng có dịp đề cập tới, khi ông nửa đùa nửa thật, nhắc tới như sau: “Chú” khách cũng thành thực trả lời…(CTC. 36).  Trong xã hội Việt Nam, lúc đó, có những thành phần bảo thủ cực đoan, như các thành phần bảo thủ kém ý thức khác trên thế giới, dưới danh xưng “Neo-Nazi” tại Đức Quốc; “extrême droite” tại Pháp Quốc, hoặc “White Supremacists/KKK” tại Hoa Kỳ v.v., đã hồ đồ nghĩ rằng mọi người “khách” ngoại quốc (étrangers/foreigners), đến “trú ngụ” (immigrants) đất nước họ, đều là loại ăn bám và gây thiệt hại.  Những đầu óc chật hẹp đó đã quên hoặc không biết rằng đa số những người nghĩa tử đó đã từng đóng góp vào việc xây dựng tinh hoa và phồn thịnh cho đất nước nuôi dưỡng họ. 
Thành kiến sai lầm này đã ảnh hưởng cả tới cách cấu tạo từ ngữ mà ngôn ngữ học gọi là “lây nghĩa” (contamination étymologique), như trường hợp hai chữ đồng âm “Trú” và “Chú” đã được dùng lẫn lộn với nhau: đáng lẽ phải gọi người di dân từ Trung Quốc tới trú ngụ tại Việt Nam là “Trú khách”, hay “Khách trú”, thì dân gian lại đổi thành “Chú khách”.  Trong thế ghép này, chữ “Chú” vô tình hay cố ý hàm súc một ý nghĩa miệt thị, coi thường người “khách” đó như thứ đàn em.  Truyền thống “hiếu khách” — tôn trọng người lạ là “khách”; vinh tôn người đối diện mình lên hàng “ông, bà”, “anh chị”, “bác” v.v. — đã mất mát nhiều khi người ta vơ đũa cả nắm và gọi những ngừời tới “trú ngụ” là “Chú” Koóng, “Thím” Củ v.v.  Có lẽ, những lầm lẫn về ngôn ngữ và tâm lý này đã du nhập khá lâu vào tiềm thức dân tộc để tạo ra những mặc cảm, vừa tự tôn, vừa tự ti, như một cách “bảo vệ” hoặc “trả thù dân tộc” không mấy vẻ vang, nay hoàn toàn lỗi thời. 
5. Vi Ảnh/Tách Mảnh
Anh Cả, trong truyện “Người Anh Xấu Số” (CTC. 111-116), cũng là một đơn vị tiêu biểu cỡ nhỏ, méo mó khác của người Cha lưu lạc.  Thế giới của anh là một cỏi mở toang; tâm hồn anh được ví như “căn lều trống”, gió thổi qua một mạch, vì anh nghĩ sao nói vậy, kể cả trong cơn mê.  Anh cởi mở, coi nhẹ hình thức, coi nhẹ bề ngoài, ăn mặc lôi thôi, và sẵn sàng bước ra khỏi lề lối gò bó của gia đình, như đã bước ra khỏi tấm hình định chụp chung với các em, dưới con mắt chỉ trích của người mẹ thiên vị.  Đó cũng là thế giới sẵn sàng bùng nổ, sẵn sàng “vỡ tràn” thành hung bạo, thành điên cuồng vì tuyệt vọng.  Vỡ tràn vào cõi chết, một cách bi thảm, “chết ở dọc đường vì kiệt sức”.  Thế giới toang hoang của người anh xấu số, đến lúc cuối, đã khép lại với những tấm lá chuối khô mà người vợ “mang theo để gói hài cốt của chồng”.  Đó cũng là sự bù đắp tượng trưng của người mẹ muốn bao bọc người con mà ba đã hắt hủi trước đây: với khả năng tầm thường nhất trong lúc túng thiếu, bà dùng “cây nhà lá vườn” này để gửi cho con tấm áo cuối cùng.  Qua cử chỉ vớt vát đó, tấm lòng khép trước đây của người mẹ thiên vị, khắt khe, đã mở ra một lần để đón nhận đứa con hư hỏng.
Thế giới di động của Chân Trời Cù, phần nhiều mở rộng cho những nhân vật nam, theo truyền thống trọng nam khinh nữ sót lại trong xã hội Việt Nam ngày đó, với thành kiến là chỉ có người đàn ông mới cần xuất đầu lộ diện, mới có quyền phiêu lưu, nay đây mai đó, vượt sông chèo núi.  Từ ngữ và xã hội Việt-Nam ta đến giờ vẫn phân biệt người đàn ông lưu lạc giang hồ như một thứ anh hùng hào kiệt, có bản lãnh và kinh nghiệm sống đáng nể.  Còn gái giang hồ, trái lại, là thứ gái ăn chơi lêu lổng, gây ô uế, bất hạnh cho thanh danh mình và nhục nhã cho gia đình, lối xóm.  Sự kỳ thị này đã được ghi trong truyện “Em Dìn” (CTC. 61-71).  Cũng như người anh Cả, em Dìn đã phải đương đầu với những thành kiến khắt khe của một gia đình bảo thủ.  Thế giới khuôn phép này đã được em Dìn tháo mở từng mảnh qua những thủ đoạn lừa dối mẹ, lừa dối anh để đi theo trai.  Đó cũng là sự bùng nổ của tình yêu liều lĩnh, là sức phản kháng của kẻ bị đàn ép, dồn vào đường cùng, đến nỗi phải “bật khóa” vượt ra khỏi căn nhà tù túng, ra khỏi thành kiến hẹp hòi và ác nghiệt của gia đình nàng.  Thế giới đó sẽ mở tung cửa để giải phóng người con gái, đồng thời cũng đẩy cô ta vào “vào đời”, vào cảnh lưu lạc giang hồ.
6. Tấm Gương Lồng Chiếu/Vỡ Nứt
Bên cạnh và đối nghịch với thế giớ mở của những chân trời bao quát, của sự phản kháng và thoát ly, thế giới khép trong Chân Trời Cũ được ghép thêm với những cảnh sống thu hẹp, kìm hãm và kín đáo của những tấm gương cẩn mẫn, trong một nền trật tự xã hội ngưng đọng mà trước đây cô lái đò trên sông Ghép đã từng biết tới.  Thế giới khép trong truyện “Lòng Mẹ” (CTC. 23-30) tiếp tục nằm bên kia dòng sông nhỏ, “êm kín” giữa hai bờ lau xanh; êm kín như vòng ôm che chở con thơ, như “cái mỉm cười của một người mẹ”; kín đáo như “cái bánh giò đặt trên tay người mẹ” và thu gọn như “miếng bánh ngậm trong miệng”.  Thế giới khép cũng là sự vây quanh của “hàng rào” bao bọc ngôi trường trong khung cảnh lý tưởng — “c’est parfait”, qua lời thầy giáo làng: một thế giới thu hẹp, biệt đãi, bao vây bởi đời sống thực tế, đầy khổ ải bên ngoài.  Hàng rào giáo dục đã có lúc hẹp hòi và nhục nhã trước cảnh người mẹ phải “mượn tạm” (lấy cắp) số “tiền kẽm” của họ hàng để trả “nợ học” cho con.  Nhưng thế giới khép cứng từ cuộc sống bên ngoài không sao cấm đoán được lòng người mẹ bừng sáng bằng nghìn tia nắng ấm, tiếp nối đo khắp chiều sâu mầu nhiệm của tình thương mẫu tử. 
Ánh sáng của tâm hồn thật nhẹ nhàng, kín đáo như cái đẹp dịu hiền nơi lòng chị đỏ Đương trong truyện “Ánh Trăng Suông” (CTC. 82-91).  Đó là ánh êm dịu của nụ cười “nở trong bóng mát”, bên kia hàng rào chia đôi thân phận con người: phía ngoài là sự bay bổng “cuồng loạn” của người chồng bước lên tàu sang Tân-thế-giới; còn phía trong là cuộc sống “cực nhục” hằng ngày của người vợ trẻ bị bỏ lại.  Đó cũng là tia sáng nhẹ nhàng, kín đáo của niềm hy vọng được chắp nối hạnh phúc với tình duyên mới.  Một thứ ánh sáng ngắn ngủi, dễ vụt tắt.  Thế giới khép thường là thế giới bẽ bàng, thu hẹp vào cuộc sống tầm thường, cùng cực của những con người an phận trong khổ đau.  Họ nhẫn nại, bẽn lẽn sống với trầm lặng, không một lời than thở, không một tư tưởng phản kháng, “trên mảnh đất nghìn đời” bất di bất dịch.  Đó cũng là cảnh ngộ của chị Yên, trong cốt truyện mang tên chị (CTC. 92-101).  Thế giới này được ghép với cái tên tiền định của chị: “An”, rồi được gọi tránh ra là Yên, như trong lòng tĩnh mịch của cõi Thiền.  Cái tịnh tâm của con người chấp nhận nỗi đau thể xác một cách bình thản, như khi bổ củi, chị Yên vô ý để lưỡi dao cắt đứt ngón chân cái, đã “không một tiếng kêu”, chị lay vạt áo bịt vào chỗ máu chảy và lặng lẽ chắp lại đầu ngón chân đứt lìa.  Cái bình thản của người chị nuôi bị đứa em nóng nẩy đá vào xương ống chân, chị “nghiến răng chịu đựng sự tàn ác” ấy, rồi xúyt xoa kêu là vấp phải bậc cửa để tránh đòn cho em.  Sự trầm lặng này bắt nguồn từ trong lòng chung thủy của chị: với tư cách nghĩa nữ, chị chịu tang cha nuôi và hy sinh không lấy chồng vội.  Chị chấp nhận một cách nhẹ nhàng như “một sự đợi chờ nhỏ nhặt, bên cạnh những công việc liên miên”. 
Kể cả cái thế giới yên lặng và ổn định đó cũng phải vỡ nứt, hé mở ra trong những hoàn cảnh thật éo le, cùng cực.  Chị Yên đã bị người cậu “xấu”, em mẹ nuôi mình, làm nhục và tước đoạt mất tấm lòng yên tĩnh của chị, nên thế giới kín đáo đó đã xụp đổ.  Chị Yên đã lủi thủi ra đi để nhập vào một khung trời hạn hẹp khác, một cuộc sống cùng bần khác.    
Đời sống đôi khi còn bị hạn hẹp hóa như trong truyện “Người Chị Dâu Tôi” (CTC.39-45).  Thế giới mở của cuộc sống cao sang, đài các từ một chân trời xa lạ khác, đã bỗng dưng thu gọn lại đối với người “đàn bà lưu lạc” từ Trung Hoa sang làm dâu nhà nghèo xứ Việt.  Thế giới mở trước đây từ từ khép đóng quanh “những công việc hằng ngày” của một kiếp sống cực nhọc, thiếu thốn, khép kín với những giây liên hệ máu mủ “trói buộc” chị vào mảnh đất cằn, nơi chôn rau cắt rốn của đàn con chị sinh đẻ ra.  Hình thức thu hẹp của đời sống đôi khi là sự lựa chọn gắn liền đời mình với mảnh đất nguyên thủy, như trong truyện “Trong Bóng Rừng” (CTC. 46-53).  Đó là quyết định rất tự nhiên của cô Fin muốn “lấy một người con trai làng”.  Người đẹp này lọt lòng mẹ trong bóng rừng luôn luôn nặng tình với rừng núi, với quê hương xứ sở, qua những mối giây “ràng buộc” siêu việt và linh thiêng nhất.  Cô Fin tự ý khước từ những áp lực và quyến rũ đẩy nàng ra khỏi chốn quê hương cỗi rễ của nàng.   
Kết Luận: Sáng Tạo và Cõi Sống Lồng Chiếu         
Thế giới sáng tạo là như vậy.  Còn chính bản thân nhà văn Hồ Dzếnh có bị “ràng buộc” bởi những mối liên hệ máu mủ, tinh thần siêu việt ghi trong tác phẩm ông không?  Có lẽ hỏi đã là trả lời, vì thế giới sáng tạo và cõi sống của ông là một.  Một nguồn sống “ghép” của sông Ghép; của “quê ngoại” và đời sống thực tế; của tư tưởng và định mệnh ông:
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây

Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…[6]
Trước khi mất vào mùa thu năm 1991, nhà văn kiêm thi sĩ Hồ Dzếnh đã linh cảm viết “Bài thơ Tặng Vợ, gửi Nguyễn Thị Hồng Nhật”, với những dòng cô đọng tâm huyết của ông như sau:
Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!
Xét về toàn diện bài thơ, thi nhân đang thổ lộ tâm tình của ông qua những lời nhắn nhủ cùng người vợ yêu quí, như đoán trước một biến cố quan trọng sẽ sẩy ra cho “hai ta”.  Tác giả của “Bài thơ Tặng Vợ” đã khéo léo tách và nối vị trí hiện hữu của thân phận con người, của “Ai”, “Ta”, “Tôi” và “Mình”, thành những mối liên hệ sâu đậm bắt nguồn từ một nhân sinh quan vừa đa trạng, vừa tế nhị, trước thời điểm biên tế của sự “chia đôi” giữa người ở lại với cuộc sống và người ra đi vĩnh viễn vào ngàn thu. 
Chữ khởi đầu của bài thơ là “Mình”.  “Mình” đã vượt khỏi vị trí của cơ thể, của mình mẩy, để tách và nối với đại danh từ, nay ở vị thế của ngôi thứ hai.  Đó là Mình-đối-tượng của lời nói tâm tình, qua tiếng gọi yêu đương: “Mình ơi”.  Nhưng “Mình” không những chỉ là người tiếp nhận lời tâm tình, mà còn là chủ thể của một đời sống đặt trên nền tảng một nhân sinh quan đa trạng: “Mình vừa là chị là em”, đồng thời lại có “Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời”.  Như vậy, thân phận của “Mình” không đơn giản đảm nhiệm một vai trò nhất định. Ngược lại, “Mình” là một nhân cách tụ hợp của “em”, “chị”, “mẹ” và người “bạn đời”, đúng theo quan niệm sống của truyền thống Á-đông: “Mình” không là mình-đơn, chật hẹp, một chiều, mà là mình-kép, dấn thân muôn mặt vào đời sống bao quát và bao dung, hay kết thân buộc nối với những mối liên hệ khác nhau để thực hiện một đời sống có “nghĩa tình”.  Đó cũng là chân tính vô ngã và vô lượng trong thuyết nhà Phật.
Nhưng nếu ta đọc kỹ lại, âm hưởng của từ “Mình” trở nên nhẹ nhàng, đậm vẻ trìu mến lạ lùng.  Như thi nhân đang quyến luyến, vuốt ve một mẫu sống, một tấm gương huyền bí phản chiếu người nữ nguyên thủy, cái nhân bản phối hợp được tất cả những đặc tính đáng yêu, đáng quí của người mẹ, người chị, người em, người yêu, người bạn — một người nữ toàn diện mà Nerval đã từng tìm kiếm suốt đời mình, dưới từ “éternel féminin“, người nữ hằng cửu.
Thoáng qua, người đọc “Bài thơ Tặng Vợ” có cảm giác buồn buồn là “Mình” sẽ phải sống tách biệt, phải chấp nhận sự chia cách với “Tôi”, trong sự cô đơn của “Hai ta”, trong cảnh “chia đôi” giữa người tiễn và người ra đi.  Nhưng, nếu lòng nghẹn ngào của “người tiễn” lại ấp ủ một sự hy sinh của “Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình”, thì lời tâm tình của thi nhân đã vượt qua sự xót xa để nở thành hy vọng.  Như vậy, sự “chia đôi” đã bớt đi phần đau đớn của trạng thái đứt ruột, lìa cánh, mà chỉ phảng phất thanh tao, nhẹ nhàng như một cuộc “tiễn” đưa tạm biệt.  Sự tiễn đưa người yêu hết vẻ bịn rịn, không tê tái, vì thi nhân không hề nói rõ “ai” sẽ là người tiễn ai, mà chỉ nhắn: “ai sẽ là người tiễn nhau”.  Sự “tiễn” đưa ra khỏi cuộc đời “lắm thương đau” sẽ mở đầu cho một cuộc hành trình đầy hứa hẹn, có triển vọng mang lại sự siêu thoát cho người ra đi.  Hy vọng siêu thoát ấy, tuy dành cho người mệnh một, lại là ước mơ trong tiềm thức của chính “người tiễn”.  Vì thế, sự “tiễn nhau” đã được linh cảm như một cuộc song hành, cùng nhau siêu thoát ra khỏi cuộc đời đầy khổ nạn.  Cái chết của một người sẽ là lời gọi đồng cảnh tỉnh, tìm lối về nguyên thủy, tìm lối về nguồn sống vĩnh cửu, mà trong đó “Mình” và “Tôi” sẽ kết hợp vào “Nhau” thành một đơn vị nhất nguyên và tương ứng, vô lượng và vô thường trong “nghĩa tình”, trong sự tuần hoàn của vũ trụ, giữ âm và dương, giữa sinh và diệt, trong vòng tách-nối tự duy.  Trong cõi văn thơ Hồ Dzếnh và trong lòng người đọc.
TS LS Lưu Nguyễn Đạt

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

::: Khúc Sầu Dĩ Vãng II :::

Khúc Sầu Dĩ Vãng II


Khúc sầu dĩ vãng bay xa ?!
Bây giờ còn lại tiếng ca... ngậm ngùi
Chị tội chi, em tội gì ?
Xưa, đau thương mãi cột ghì vào thân !

Bão giông giờ đã ngưng dần
Trời cao mây biếc, dưới trần nắng chang
Cơm no, áo ấm, tâm an
Niềm vui hạnh phúc biến tan tủi sầu !

Mai này mình sẽ về đâu ?
Vì quê hương, chẳng có cầu bước qua
Gia đình ánh mắt lạ xa
Mặt đồng lạnh ngắt như là không quen

Trong nhà làm kiếp phận hèn
Ra ngoài tìm lối lấn chen với đời
"Tiền rừng bạc biển" dâng Người
Mở lời nhỏ nhẹ : "con (em) tôi ngoan hiền !!"

Trời già gieo cảnh oan khiên
Tóc màu bạc trắng não phiền chưa tan
Để rồi chị thở, em than :
Nghiệp căn chưa dứt đành mang khổ sầu

Chim xa lìa tổ đã lâu
Trăm thương nghìn nhớ quay đầu hoài hương
Mây đen che khuất ánh dương
Diều hâu, kên, quạ chặn đường chim bay

Mấy mươi năm, giờ mới hay...
Cam đành chấp nhận phương Tây là nhà !!
......   ......

Việt Dương Nhân
 (Paris, bên bờ sông Seine, đêm 21.4.2007)

Tiệc cưới Monique & George khách sạn Caravel SG 25/1/1975

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

Về thơ Việt Dương Nhân - Nguyễn Thế Duyên

  « Ngày xưa đất nước điêu tàn
Cha đi kháng chiến mẹ sang thuyền người
Ngày nay cha mẹ « gặp » rồi
Cuộc đời tôi mãi mồ côi một mình » 
(vdn)

Điều đầu tiên ai cũng nhận thấy đây là một bài thơ buồn, nhưng không phải là nỗi buồn vơ vẩn không hình dáng mà nói như Xuân Diệu “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” của một lớp trẻ vừa lớn, đang yêu. Mà đây là nỗi buồn của  một người từng trải, mái tóc đã pha sương, một buổi chiều nào đó đã ngồi tổng kết lại cuộc đời mình bằng bốn câu thơ dung dị nhưng thấm đẫm một nỗi đau nhân thế. Không hiểu sao, tôi lại luôn nghĩ chị viết bốn câu này vào một buổi chiều. Có lẽ là tại cái buồn của bài thơ.Nỗi buồn cứ lan tỏa chầm chậm như màn đêm đang chầm chậm buông xuống của một buổi hoàng hôn cô quạnh.
Chị khổ từ bé. Bố mất, mẹ đi lấy chồng.Gia đình tan nát. Tôi không biết lúc ấy chị bao nhiêu tuổi nhưng chắc còn bé lắm vì  thế chị mới viết “mãi mồ côi” ở câu kết của bài. Chữ “Mãi” trong câu cuối của bài thơ gieo vào lòng người đọc một dấu hỏi nhức nhối. Chiến tranh, dù có nhìn từ phía nào thì cũng là điều cần phải tránh. Chẳng thế mà Sử Hi Nhan đời Trần dù vừa chiến thắng quân Nguyên nhưng vẫn viết : “Kiếm hồ! kiếm hồ ! bất tường chi khí” (kiếm này ! kiếm này! Là vật chẳng lành). Tôi không muốn đàm luận về chiến tranh. Ở đây, trong bài thơ này, tôi chỉ muốn nói đến những đau khổ do chiến tranh mang lại.
“Ngày nay cha mẹ gặp rồi”. Cả bài thơ, tôi thích nhất câu này. Chữ “gặp”thật là tuyệt bút. Người đọc vẫn hiểu được nghĩa chết của câu thơ nhưng rộng hơn người đọc còn thấy được khát vọng muốn có một gia đình trọn vẹn ,được dấu kín trong tâm hồn nhà thơ từ thủa còn thơ ấu. Nếu “Chết” là sự kết thúc thì chữ “Gặp”lại là sự bắt đầu và cái khéo của nhà thơ, cái tài của nhà thơ cũng chính là điều đó. Nó mở ra những  liên tưởng vô cùng lý thú cho người đọc
Tôi cứ luôn nghĩ về “Mãi mồ côi “ của chị. Đau đớn quá! Không phải là nỗi đau xé ruột xé lòng trước mộ người đã khuất như chúng ta thường thấy. Nỗi đau ấy dù có lớn đến bao nhiêu thì rồi thời gian sẽ xoa dịu đi chỉ để lại một vết sẹo trên trái tim đã chai lại. Mà đây là một nỗi đau âm thầm mà chị đã cố dấu mọi người. Nỗi đau ấy cứ luồn lách trong tâm hồn chị, vò xé trái tim chị. Bao nhiêu năm đã qua rồi nhưng vết thương ấy vẫn không ngừng rỉ máu. Khi tôi ngồi viết những dòng này, tôi lại luôn hình dung cảnh một người đàn bà đang quì trước bàn thờ, cô quạnh ,đơn độc. Mặt chị hơi cúi xuống, im lặng lắng nghe tiếng nức nở khe khẽ vọng ra từ chính trái tim mình. Ở đây có thể thay chữ “mãi” bằng chữ vẫn “Cuộc đời tôi vẫn mồ côi một mình” câu thơ vẫn chỉnh. Nhưng tiếng “Mãi” chị dùng trong câu hay hơn rất nhiều. Nó làm người ta liên tưởng đến một dòng chảy liên tục, triền miên,từ lúc mới sinh ra cho đến khi đầu điểm bạc.Nỗi đau theo suốt một đời người
Thực ra tôi không đọc hết thơ chị. Không phải là tôi không đủ kiên nhẫn mà là tôi không đủ dũng khí. Thơ chị buồn quá. Một nỗi buồn bàng bạc cứ quấn lấy người đọc mang lại một cảm giác ngột ngạt,bức bối. Đọc một hai bài thơ buồn thì thấy hay nhưng đọc một chục bài thơ buồn thì quả thật là một cực hình. Tôi đọc thơ chị mà tự hỏi mình rằng : Có phải cuộc đời buồn như thế?  Và còn một điều cuối cùng tôi muốn nói. Câu kết trong bài thơ của chị hay thì hay thật nhưng không đúng. Chị không “một mình” như chị nghĩ. Chúng tôi luôn ở bên chị, chia sẻ với chị những buồn vui. Nỗi buồn chị đã chia sẻ với chúng tôi rồi., tôi mong một ngày nào đó, mở trang thơ của chị tôi đọc được những nụ cười, dù là nụ cười buồn của một người xa xứ .

 Nguyễn Thế Duyên
Hà nội 8-6-2008
 

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

THƯ CHO NGƯỜI TÌNH (25.10.2012)

THƯ CHO NGƯỜI TÌNH
25.10.2012
(avatar cancer)
Anh,
Hôm nay nhận tin của Anh, em chết lặng người !^_^!

 "Les nouvelles ne sont pas bonnes, mon cancer se serait réveillé d'après les analyses. Je vais voir un spécialiste à Lyon le mardi 31. Je te tiendrai au courant. J'ai fait une grosse chute dans les escaliers, toute la descente. Rien de cassé mais de nombreuses plaies. J'espère que ça va mieux pour toi.
T'ai BOBY"

!^_^!
Con "cua" nó trở lại trong người Anh !^_^! sau hơn 16 năm (17.6.1996) BS liệng nó ra xa. Kỳ này coi như mình thua 'nó' rồi. Hãy BUÔNG XẢ hết, đừng nuối tiếc gì cả. Còn em đang đón nhận 'nó' đây.
Ờ, có gì mình sẽ gặp nhau "bên kia", nơi không còn SANH LÃO BỆNH... nha Anh ! Nhưng ...
ANH CÒN NỢ EM





26 Bài Thơ Về mùa Thu (nhiều tác giả)


THƠ XƯỚNG HỌA: Thu Nhớ, Tiếng Thu, Cảnh Thu xưa, Thu Chờ Đợi, Chiều Thu, Thu Hoài Vọng, Thu Trên Bến Đợi Sông Chờ, Tình Lá, Hơi Thu, Thu Riêng Một Cõi, Thu Và Em, Tình Thu, Thẹn Thu, Thu Về, Thu Về Trên Bãi Vắng, Thu Phố, Thu Phong, Hồn Xa, Thu Nhớ Mong, Hờn Thu Níu Nắng, Thu Nào, Tình Xa, Thu Tâm, Thu Xót Xa, Nhạt Nắng, Nhớ Một Mùa Thu

[1­] ­­
THU NHỚ

Thu lại về trên những ngọn phong

Trời thu hiu hắt nắng se hồng
Heo may lành lạnh lùa trong tóc
Hương cúc êm đềm toả trước song
Em vẫn nâng niu từng ước nguyện
Anh còn trăn trở những hoài mong
Ba thu dồn cả thiên thu lại
Chén rượu đoàn viên mãi hẹn lòng
Boston 15-10-2011
Đoàn Ngọc Kiều Nga

[2]

TIẾNG THU

Lưng trời nhạn lẻ đón thu phong

Xào xạc đồi cây lá ửng hồng
Sương đục giăng màn mờ dưới lũng
Nắng vàng trải lụa hắt bên song
Vần thơ giao hưởng xanh hò hẹn
Chung rượu đoàn viên đỏ ước mong
Em có nghe chăng mùa lại tới
Đàn ai réo rắt tiếng tơ lòng!
October 16, 2011
Hồ Công Tâm

[3]

CẢNH THU XƯA…

Thu về hồi tưởng những mùa phong

Một thuở xa xưa, ấm nắng hồng
Che nón quai thao đi cặp cặp
Chít khăn mỏ quạ bước song song
Bến sông trai trẻ chờ người hẹn
Chân núi mẹ già ngóng cổ mong
Cao ngất trời xanh diều ngất ngưởng
Đìu hiu tiếng sáo mết mê lòng!
Oct-17-11
Hạ Thái
(Trần Quốc Phiệt)

[4]

THU ĐỢI CHỜ!

Rực vàng chi mấy hỡi rừng phong!

Bỡn cợt trêu người lá đổi hồng.
Sương tụ che ai mờ nội cảnh?
Mưa rơi ai thấy rõ ngoài song!
Anh vui hồ thỉ mơ hưng quốc,
Em tủi phòng khuê cam đợi mong.
Lá đã thay mầu bao độ nhỉ,
Anh em mình vẫn chẳng thay lòng!
Dzoãn Thường
Pasadena 17-10-2011

[5]
Chiều Thu

Giăng giăng sương bạc trắng đồi phong

Nắng đón mùa sang đã nhạt hồng
Hiu hắt vàng rơi mơ ngập lối
Lao xao lá đuổi mộng ngoài song
Nửa vần Thơ hẹn còn dang dở
Chung mảnh trăng thề vẫn đợi mong
Vọng tiếng chim côi rền một cõi
Chiều thu quạnh quẽ đến nao lòng
Vương Hồng-Ngọc

[6]
Thu Hoài Vọng

Rực rỡ đường thu sắc lá phong

Như bài giao hưởng thắm môi hồng
Bồi hồi hoa đón thu vào ngõ
Xao xuyến hồn theo gió lướt song
Lá rụng cuối trời vương nỗi nhớ
Hoa tàn bên giậu vẫn hoài mong
Người đi xa mãi riêng ta ở
Lần lữa thu sang nỗi hận lòng
Quang Tuyết

[7­­]
THU TRÊN BẾN ĐỢI SÔNG CHỜ

Thu trở về cùng ngọn bắc phong

Xạc xào đuổi lá đỏ nâu hồng...
Vờn bông huệ trắng buồn trong chậu.
Vuốt lá ngô vàng úa trước song.
Bến đợi thương ai ngồi đợi đón...
Sông chờ xót kẻ đứng chờ mong...
Quan san cách trở tình đôi lứa
Biết đến khi nao thấy bạn lòng?
LT. Đỗ Quý Bái

[8]
TÌNH LÁ

Mỗi lúc thoáng nhìn chiếc lá phong

Tình ai rạo rực ánh xuân hồng
Nhủ thầm vẫn ấm trong khung cửa
Mới biết còn tê ngoài chấn song
Người ở âm thầm ôm nỗi nhớ
Kẻ đi biền biệt giấu niềm mong
Thu về sao thấy như nôn nóng
Dậy sóng trong đông hội ngộ lòng
18.10.2011
Võ Sĩ Quý

[9­­]
HƠI THU

Thu đến làm phai những lá phong

Hơi thu se lạnh, nắng hanh hồng
Màn sương lắng đọng lung linh ngọc
Trăng lượn lờ đêm chiếu trước song
Mây trắng lang thang bay cuối nẻo
Trời xanh man mác nổi chờ mong
Xứ người thấy lá vàng rơi rụng
Đã biết vào thu --- Chạnh nỗi lòng!
SONG QUANG 
 
[10]
THU RIÊNG MỘT CÕI...

Mái xiêu, tường lở rộp rêu phong

Và nắng vào thu nhạt sắc hồng
Gió chỉ se se rung cánh liễu
Mây thời bảng lảng gác chân song
Đường xưa khuất lấp làm sao nhớ
Bạn cũ chia xa chẳng thể mong
Xót cảnh cô phòng mơ viễn khách
Để rồi trăn trở hận riêng lòng
Thái Huy, 17-10-11
[11­­­]
THU và EM

Xuyên khung cửa hẹp nhẹ thanh phong

Chiếu xuống đầu non ráng giảm hồng
Em đứng nhìn mây giăng lấp ló
Em mơ có bạn bước song song
Trên con đường cũ hoa đua nở
Giữa khoảng trời xuân én rộn mong
Ấy thế mà nay dần khuất lấp
Đành chôn kỷ niệm hận cho lòng...
Thái Huy, 18-10-11
 
[12­]
TÌNH THU

Hiu hắt trời mây lạnh cỏ phong

Lao xao rừng lá úa, nâu, hồng
Nhà bên cúc nở vàng hiên cửa
Em thẹn mắt nhìn thoáng cánh song
Có phải Thu xưa còn vọng lại
Hay là nhạn cũ vẫn chờ mong
Canh tàn chếch bóng trăng về cội
Thao thức tình ta ngập cõi lòng.
PHÙNG TRẦN - TRẦN QUẾ SƠN
(Illinois, Oct-18-2011)
 
[13]
THẸN THU

Bên rừng lá dạt trận cuồng phong

Rải rác quanh ta những lá hồng
Nỗi nhớ nhắc hoài người lữ thứ
Cảnh buồn ru mãi kẻ bên song
Bao giờ cho dứt niềm hy vọng
Đến lúc nào nguôi nỗi nhớ mong
Hẹn mãi hẹn hoài rồi lại hẹn
Soi gương luống những thẹn trong lòng
Chân Diện Mục

[14]
THU VỀ

Thu về theo những ngọn thu phong

Dịu ánh hoàng hôn sắc ửng hồng
Sóng gợn làn sen chao mặt nước
Gió mơn đóa cúc nở bên song
Em nơi đất hứa đời yên ấm
Anh ở quê nghèo nổi nhớ mong
Đất nước vô phần tranh đấu mãi
Thu về thay tiết chẳng thay lòng.
20111019
Việt Hạ

[15]
THU VỀ TRÊN BÃI VẮNG

Thu về hiu hắt ngọn kim phong

Bãi vắng hoàng hôn ráng ánh hồng
Cánh nhạn lưng trời bay lẻ chiếc
Thuyền câu mặt nước rẻ đôi song
Người đi tan tác mùa ly biệt
Kẻ ở tơi bời buổi nhớ mong
Nắng nhẹ chiều ru cơn gío tối
Sầu dâng lệ ứa buốt se lòng
Lê Bá lộc

[16­]
Thu Phố

Tiết trời thu phố thoảng huơng phong

Lác đác chòm mây điểm sắc hồng
Văng vẳng bên tai đàn dạo phiếm
Mơ màng truớc mắt cảnh qua song
Quê nhà thăm thẳm nguời hiu quạnh
Đất khách chơi vơi dạ mỏi mong
Nợ nuớc tình nhà đôi gánh nặng
Năm canh trằn trọc mối riêng lòng
Montreal 21 oct
Vagabond
[17­]
THU PHONG

Bỗng dưng trời đất nổi cuồng phong,

Gió đập rung cây rụng cánh hồng.
Ngơ ngác đàn nai bên suối vắng,
Giật mình lũ sóc nép thềm song.
Nắng còn ngơ ngẩn trên đồi tiếc,
Mưa đã cuống cuồng dưới đất mong.
Ào ạt bên hiên như suối đổ,
Thu tan tác lá, sắt se lòng!
Thu T.
[18]
HỒN XA

Ngậm ngùi thi tứ: "... tiếu đông phong"

Ai nép vào hoa ửng má hồng
Đông lạnh luyến lưu dừng trước ngõ
Xuân nồng rộn rã đến bên song
Người đi vương vấn tình ngăn cách
Kẻ ở mơ màng ý đợi mong
Muôn - dặm - nghìn - xưa nào khác biệt
Cùng ta rung một tiếng tơ lòng!
23/10/2011
Đoàn Chinh Nam

[19­] ­
THU NHỚ MONG

Đất lành chim đậu (*) cảnh thu phong

Thanh thản tâm hồn ngắm nụ hồng.
Gió mát mơn man đùa ngọn cỏ
Lá vàng khắc khoải vướng bên song.
Niềm thương lặng lẽ còn ôm ấp
Nỗi nhớ mông lung mãi ước mong.
Khoảnh khắc qua mau bao hối tiếc
Thân tâm an lạc thiết tha lòng.
Minh Lương Trương Minh Sung
(*) Tục ngữ

[20­]
Hờn Thu Níu Nắng

Lá buồn lặng lẽ bỏ rừng phong

Tiên nữ hờn Thu níu nắng hồng
Gọi gió về lao xao cuối phố
Đẩy mưa đi lướt thướt ngoài song
Tô mầu thắm để cây hoài đợi
Ủ giấc nồng cho cỏ mãi mong
Bao cảnh biệt ly mùa chuyển tới
Thiên đình cũng khóc xót xa lòng

Uyên Phương Minh Nguyệt

[21]
THU NÀO

Cũng tại thu nào nổi trận phong

Quê Hương tan tác nhuộm màu hồng
Đau thương Pắc Pó tràn tràn cõi
Khổ nhục Ba đình ngập ngập song
Hưng quốc người người đang quyết chí
Cờ vàng kẻ kẻ vẫn chờ mong
Phen này nhất định không nhường nữa
Đuổi cộng cho xong khỏi hận lòng!!
Tha Nhân kính họa
Camthành 26/10/2011
 
[22]
TÌNH XA

Đếm bao lá rụng giữa Thu phong

Chợt thấy dường như thiếu nắng hồng!
Những tưởng tình xưa về trước ngỏ
Đâu ngờ hương cũ thoáng qua song
Trăng tròn mấy độ: âm thầm đợi
Lá úa bao lần: khắc khoải mong
Muôn thủơ mây trời luôn vẫn trắng
Tình xa: lòng mãi... mãi bên lòng
Văn kế Thế
[23­]
THU TÂM

Mây trời lớp lớp cuộn cùng phong,

Nguyệt lặng vờn mây ửng nét hồng.
Thấp thỏm tầng trời khoe dáng ngọc,
Thập thò bóng thả ướm khuê song.
Đèn khuya một nén sương trông đợi!
Cảnh cũ ngàn đau lá nhớ mong!
Thu đến, vàng rơi thu lại đến,
Đêm tàn nguyệt tạ ngẫm trăng lòng.
27.10.2011
Văn Thiên Tùng
 
[24]
Nhạt Nắng

Đường chiều lá rụng buốt thu phong

Hờ hững tình thu nhạt má hồng
Gió chướng tạt vào trong cửa sổ
Mưa rào tuôn xuống ngoài thềm song
Nắng chiều níu kéo tình hoài vọng
Mưa sớm tràn dâng nỗi nhớ mong
Nhạt nắng giao mùa bao cách biệt
Tình xưa lắng đọng thiết tha lòng
Cao Kiều Phong
10/29/2011
 
[25]
Thu Xót Xa

Trời thu nắng nhạt bờ rêu phong

Thăm thẳm đường quê lấm bụi hồng
Một sớm chia lìa hồn cố quốc
Bao chiều ngóng đợi kẻ bên song
Thu đi năm tháng mây theo gió
Hè lại đêm ngày ước với mong
Người hỡi xa nhau còn tiếc nhớ
Riêng ta vẫn mãi xót xa lòng
Tuấn Đình
31/10/2011
 
Nhớ Một Mùa Thu
Vàng nâu đã điểm khắp rừng phong
Báo hiệu thu sang ngập nắng hồng
Chợt nhớ năm nào nơi cố quốc
Chót thương ai ấy nép bên song
Mắt nhìn hờ hững người mơ mộng
Chân bước ngập ngừng ta ước mong
Một sớm thanh bình xin hẹn gặp
Cho vơi nỗi đợi thỏa thuê lòng
Tin Giang
11-02-2011
(Nguồn: E-mail)

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

THƠ BÙI GIÁNG – TỪ PHÁ THỂ SANG HỘI NHẬP

October 13, 20122 B�nh Luận
Trong thơ Bùi Giáng luôn luôn có một trạng thái mâu thuẫn tự tại, từ bản thể, nhân sinh quan, tới ngôn ngữ sáng tạo. Những khía cạnh trái nghịch nhau về tư tưởng và hình thức được lồng ghép lại, vừa để phủ nhận, và cũng để thừa nhận lẫn nhau trong một thế biện chứng bất giải. Tình trạng nghịch lý đó được Jacques Derrida qui định trong một từ ngữ mới — “différance” — do ông sáng chế bằng cách ghép nghĩa của hai từ ngữ “différence” (khác biệt/phân biệt) và “différance” (différer/trì hoãn) thành một.
Theo Derrida, ngôn ngữ và từ ngữ luôn luôn mang trạng thái ngộ nhận và ngờ vực, vì ngôn ngữ và từ ngữ chỉ là những thể cách biểu hiệu giai đoạn của sự khác biệt và bất toàn, tách mảnh, trong tư tưởng về bản thể, nhân sinh quan và vũ trụ quan. Cách phân tích này đặt trên căn bản xét lại một tác phẩm được hình thành qua kết cấu hủy tạo hay phá thể (Déconstruction / Défigurations du langage ).
Đọc thơ Bùi Giáng khó có thể thấu hiểu ngay chân ý, hoặc nguyên ý của tác giả, mà chỉ có thể nhận định sự tách mảnh ngôn ngữ và tư tưởng qua những dấu hiệu bất toàn đang chuyển dần từ nỗ lực phá thể sang sinh lực sáng tạo. Người đọc thơ Bùi Giáng cần hội nhập toàn diện trào lực đó.
Thơ Bùi Giáng, trước hết, là một cuộc đàm thoại miệt mài, vơi những câu hỏi liên tục và những câu trả lời không rõ rệt, vì mong lung và phổ quát, như trong bài “Tặng Mã Giám Sinh” (BG.193):
“Hỏi tên rằng biển xanh dâu
“Hỏi quê ? rằng mộng ban đầu đã xa
“Gọi tên ? rằng một hai ba
“đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm
Cuộc vấn hỏi này, dù xuất xứ từ ai, cũng chỉ mang lại một hồi âm mơ hồ và bất tận, liên can tới một hiện tượng biến đổi liên tục. Dù vĩ đại và trường kỳ đến mấy, sự biến đổi đó chỉ hiện hữu trong ý thức và tâm thức của thi nhân về một nhân sinh quan và vũ trụ quan luôn luôn khác biệt và khiếm khuyết. Trước hết, sự biến cách hay “sái diện” (BG.5) của cái “ta” nơi Bùi Giáng theo diễn tiến một sự kết cấu qua thể hủy tạo hay phá thể (déconstruction-défiguration) đa diện và đa trạng. Đó là một trào lực có khuynh hướng vừa ly tâm, vừa hướng tâm, nhằm phá vượt hai chiều những biên giới bản thể, để chủ thể trở thành khách thể, cái “ta” trở thành “không-ta”, thành “mình”, thành “em”, hoặc ngược lại, trong một thế tách-nối vô định và bao quát liên hệ tới nhân thể, như trong câu:
Nhìn em như thể nhìn người …
Nhìn người như thể nhìn ta
Tự mình nâng cốc rót ra rót vào (BG.195);
hoặc:
Nhớ quên người nhớ quên người
Tầm sương sái diện ai người ai ta (BG.155).
Đặc biệt là hiện tương người “láng giềng”: đó là vị thế của một thứ tha nhân, vừa xa lạ, vừa gần gũi, ở bên kia hàng rào, nhưng lại bên cạnh vách tường, từng sống giáp ranh như những mảnh “ta” chia cách, nhưng vẫn còn luyến tiếc tâm giao:
Láng giềng tâm sự là ta với mình (BG.174)
Trong quan niện tách-nối này, thi nhân có lúc cảm thấy bớt lẻ loi, đỡ cô đơn, vì có khả năng “khuếch xung” (BG.22) thành những thân phận khác. Nhờ đó, thi nhân thẩm thấu được những cảnh huống đa thể, đôi khi như mâu thuẫn với chính mình: sống hộ người khác; sống qua người khác; hoặc sống-bên-cạnh và lạc lõng ngay chính bản thân mình. Cũng như sống và không sống, đôi khi chi là một cảm giác, một quan niệm hai bề. Đó là viễn tượng “trùng khơi” (BG.54) qua những bản thể và trạng huống tư duy khác nhau thành những trào lực dây chuyền tiếp nối.
Ngay với tại bản thể, sự “sái diện” của cái “ta” cũng là một hiện tượng “điệp trùng” (BG.29) nhân cách, được thể hiện qua tâm thức và ấn tượng đa diện từ chính bản thân mình. Cái “ta” đó luôn luôn là môi trường xung đột hoặc gặp gỡ của những tâm trạng tỉnh và say, điên cuồng và sáng suốt, vui và buồn, lẫn lộn. Đôi khi tình, tỉnh và điên cũng có thể tiếp ứng nhau một cách kỳ diệu để trở thành thứ “tình điên…chơi vơi” so với “tình không điên” (BG.62) cũng đầy hỗn mang — tĩnh và loạn cùng một nơi, và có thể cùng một lúc. Đảo điên đôi khi lại tách biến thành “cuồng mộng” (BG.69, 92, ), thành “niềm vui vô hạn” và “niềm đau vô lượng” (BG.95), trong một thể luân phiên hư hư thực thực: “Vui quá giả bộ buồn” (BG.119). Sự sái diện của cái ta đảo điên đôi khi còn đi song song với hiện tượng “khuếch xung” và phản “khuếch xung”, qua những giai đoạn so sánh hay ám chỉ dí dỏm như sau:
Điên cuồng mà tưởng nên thơ
Cuồng điên mà tưởng làm thơ như thần
Phải chăng đây là những lời tự mỉa mai (phản khuếch xung), hay tự tâng bốc (khuếch xung), nói thế nào cùng đúng, và cũng có thể sai, vì làm sao biết được thi nhân điên hay không điên, thơ hay thẩn, thần hay ngợm ?
Sự “sái diện”, “điệp trùng” và “khuếch xung” của cái “ta” trong thơ Bùi Giáng, không những chỉ có tính cách thuần nhân, liên hệ tới ta và không-ta, mà còn thẩm thấu xuyên qua các giới sinh vật, qua thiên nhiên, trong một vòng “trùng sinh thái thậm” (BG.19). Có lúc thi nhân muốn truy dụng cái phong độ của “tuổi cọp” mình để đủ bản lãnh “giữ mộng đười ươi” (BG.56); hoặc theo “ngựa về núi đá đầu thai” (BG.19). Cũng có lúc thi nhân như có thể thu kết được cả vũ trụ, thấy “mưa gió trong thân” (BG.73), hoặc nghe “mùa đông dậy chậm mau trong mình” (BG.132).
Sự “sái diện”, “điệp trùng” và “khuếch xung” từ nhân sinh quan tới vũ trụ quan luôn luôn ám ảnh Bùi Giáng đến nỗi thi nhân đã phải thốt lên:
Từ đó về sau Trẫm đau đớn thiết tha
Và không còn biết mình là cái gì nữa cả (BG.11)
Nhưng sự tách-biến hoặc phá thể siêu (xiêu) hình này không hoàn toàn đưa đến sự khước từ nhân cách hoặc tự hủy trong tư tưởng, mà lại có ích dụng hoặc chức năng làm rẫy và mở đường phóng toả, nhằm truy dụng những “ngõ ban sơ” (BG.122), như thể tìm kiếm “dấu” (BG.168) tích của một nguồn gốc xa xưa; như để tìm lại huyền sử trong “trang phai cỏ” (BG.54). Nguồn gốc của bản thể trong ta và ngoài ta được Bùi Giáng gọi chung là quê quán của “mộng ban đầu đã xa” (BG.193), là “cố quận” (BG.17, 20, 32, 85, 96…) vừa thực thể dưới hình thức tương tự của “phố cũ” (BG.85), hoặc “viễn phố” (BG.5), vừa trừu tượng như quan niệm “nguyên thủy (BG.20) của không gian và thời gian vô tận, của những “nghìn xa vắng ” (BG.35) còn phảng phất mơ hồ trong tiềm thức nhân loại.
Nỗ lực phá thể đã cùng lúc chuyển sang sinh lực hội nhập, vừa hướng tâm, vừa hướng nguồn. Tác động biểu lộ trào lực này được diễn tả qua cụm động từ “đi về” (BG.6, 68, 70, 73, 90, 110, 137, 158…), một hình ảnh động mà Bùi Giáng đã dùng đi dùng lại như một ám ảnh, hay một đam mê: ở đầu nhiều bài thơ, ở giữa, ở cuối, ở bất cứ đâu, thành những lời rủ rê, ve vãn; những mời mọc thiết tha; những thôi thúc nhiệt tình:
Đi về giũ áo cà sa
Trút tờ phong nhã từ ta tặng người (BG.6)
hoặc:
Đi về tinh thế đa mang
……….
Quy hồi cố quận lênh đênh (BG.68)
như:
Đi về giữ lá đầu cây (BG.70)
hoặc:
Đi về với gió phù du (BG.90)
Sau những giai đoạn phá diện như “đi qua dâu biển rối bời” (BG.158), thi nhân đã nhập cuộc trở về “nguyên thủy” (BG.20), về nguồn gốc chung của sinh loại và vạn vật, về một điạ danh huyền ẩn, nơi mà Bùi Giáng gọi là “cố quận tập trung” (BG.20). Đó là lộ trình trở về nguồn, về cội, về trái tim vũ trụ, mà cũng là trái “tim thơ rướm máu” (BG.46, 91, 206), nơi thi nhân đã “đi về đi ở dấn thân” (BG.158) suốt cuộc đời mình.
Bùi Giáng cũng đặt lại vấn đề ngôn ngữ một cách miệt mài, qua nhiều giai đoạn hủy tạo tiếp nối. Bùi Giáng nhắc tới ngôn ngữ rất nhiều lần trong tập thơ, không hẳn để liệt kê những dụng cụ, những phương tiện diễn tả, mà hầu như để kết nghĩa với chúng, như đem trình làng những cộng tác viên mật thiết, song song và tương xứng với tư tưởng của thi nhân. Ngôn ngữ và “thy ngữ” dưới tay Bùi Giáng đã trở thành những thành viên, những chủ thể có đặc tính riêng biệt và “chức năng” rõ rệt trong sinh hoạt sáng tạo toàn bộ.
Trước hết, ngôn ngữ từ Bùi Giáng không thuần nhất và cố định, vì chúng có khả năng tách biến hoặc “phân ly” (BG.200) từ hình dung tới nội dung để trở thành “sái diện” (BG.73). Sự tách biến và sái diện của ngôn ngữ được hình thành qua những giai đoạn “trùng vây…trùng khơi” (BG.39); hoặc theo ngư điệu “điệp trùng” (BG.73 & 117) hoặc “tam trùng tứ điệp” (BG.24). Riêng để chỉ định hình dung và sắc thái của thơ, ngôn ngữ Bùi Giáng đã phải tự tách biến qua dấu hiệu “cảo thơm” (BG.26); “phương cảo” (BG.27), phù du như “trang phai cỏ” (BG.54), bay bổng như “lá rừng kết tập hàng hàng so le” (BG.74). Thơ Bùi Giáng lại mang những dấu tích tâm linh, khi tự mở thành những “trang mơ ” (BG.190), hoặc những “trang lịch sử” (BG.141) có thể làm ấm lòng người, dù đó chỉ là những “tờ mộng rách” (BG.206).
Ngôn ngữ được thi nhân phân loại theo tâm hướng: “ngữ ngôn cuồng dại” (BG.9); “ngôn ngữ hồ đồ” (BG.28,138); “ngôn ngữ xuề xòa” (BG.30); “ngữ ngôn bừng dậy” (BG.45). Hoặc theo chức năng kết tạo: “Ngữ ngôn thi điệu thêu thùa” (BG.59); “ngữ ngôn thích ứng (BG.31); “Ngữ ngôn thích dụng như hà” (BG.78); “Ngữ ngôn viễn lữ kim tuyền” (BG.178); “ngôn ngữ tuyệt trù” (BG.38,87); “ngôn ngữ nguy nga” (BG.114). Hoặc thành nhịp độ trào lực: “ngôn ngữ trùng vây…trùng khơi” (BG.39); “Ngôn ngữ điệp trùng” (BG.73,117); “Ngôn ngữ cuối cùng” (BG.126); “Ngôn ngữ phân ly” (BG.200).
Từ thi nhân chơi chữ phát hiệu ra một thứ ngôn ngữ “chịu chơi” (BG.184), duyên dáng lạ lùng: “Thân láng giềng” đảo ngữ thành “Giếng làng mọc cỏ thuyền quyên” (BG.202); từ cuộc “Chiêm bao đứt ruột” ngôn ngữ đã đảo thành “bao chiêm”, rồi để đảo ngược thành “biêm chao”, và cuối cùng láy thành “biên chép” (BG.203), trong một vòng liên âm, liên tưởng độc đáo.
Chơi chữ là đấu trí và cũng là cách trả đòn, trả đũa, sửa lưng thâm độc:
Que diêm que lửa que lời
Cõi trăm năm cũng một đời ba que
Ba que bốn quít hội hè
Tầm sưu nhậu nhẹt đề huề bủa giăng (BG.37)
Thoạt đầu thi nhân có vẻ nhắc tới sứ mạng của mình một cách khá tinh vi, như muốn mượn lời thi sĩ lãng mạn trong văn chương Pháp tự ví mình như “kẻ lấy trộm lửa thần”, khi dùng ba chữ “diêm”, “lửa” và “lời”. Nhưng khi chơi luôn ba lần chữ “que”, rồi đột nhiên ghép thành “ba que”, thì chữ chơi không những nghịch ngợm, mà còn thêm vẻ đanh đá: xỏ lá ắt phải chơi với “ba que” mới đủ cái nghĩa đểu cáng của nó ! Nếu tiếp tục trò chơi chữ này bằng cách nhái giọng hoặc nói lóng, thì từ “bủa giăng” không biết còn văng ra chữ gì nữa ?
Chơi chữ hoặc chữ chơi có lúc cũng sâu sắc, xót xa như trong câu:
Lòng mơ hủ tiếu miệng lồ gồ dâng (BG.32)
Nếu đem dòng thơ này ra phân tích, thì thấy phảng phất một vị thơ “Bài Cú” (Haiku) của thi ca Nhật, vì ý và âm độ ngôn ngữ hài hoà đã đạt được tính chất siêu việt ngay trong cái gì tầm thường nhất: nhờ ở chữ “mơ” mà miếng ăn nhẹ hẳn đi, đỡ phần trần tục. Sự thèm thuồng trở nên trừu tượng, như tiếng gọi của đam mê. Riêng cụm từ “lồ gồ dâng” lại biểu hình một cách rất hóm hỉnh về tác động lên xuống, lồi lõm như miệng đang nhai. Đồng thời cũng phảng phất âm thanh một “logo”- lời biểu hiệu, hoặc nhai nhái như một “slogan” – cái khẩu hiệu thôi thúc, mời mọc: bên cạnh một món ăn vật chất có sự hiện diện điển hình và cần thiết của món ăn tinh thần; hoặc, ngược lại, tất cả cuộc sống, ăn uống, dù ở cái thế tận cùng, tầm thường nhất, cũng chỉ là giấc “mơ”, là lời nói suông, tuyên truyền vu vơ, vừa để ngụy biện, vừa để tự dối lòng. May là mơ và mộng của Bùi Giáng lại đa diện về mặt ngôn ngữ, nên có lối thoát cho thi nhân trong nỗi thèm thuồng bất toại. Vậy nếu còn có “Lòng mơ hủ tiếu miệng lồ gồ dâng ” thì chưa đến nỗi tuyệt vọng.
Đôi khi chơi chữ lại tế nhị, ân cần như trong câu:
Từ thơ phố thị tới nàng nàng nương (BG.64)
“Nàng” và “nương” tuy cùng nghĩa, nhưng vì được láy đi láy lại tới hai ba lần với nhịp độ điệp trùng trầm âm, nên đượm thêm vẻ nũng nịu, trìu mến.
Chơi chữ còn ấm ớ và khêu gợi như trong bài thơ “Em đi” (BG.44):
Em đi áo mỏng quần dày
Áo dày quần mỏng máu đầy hở hang …
Hoa đời động đậy từ hang khe rừng
Không những đồng âm, “hở hang” và “hang khe rừng” còn a tòng và đồng lõa tham dự vào cuộc chơi tẩn mẩn, dùng cặp mắt nhìn trộm (voyeurisme) “hoa đời” và trái cấm. Nhờ người nhìn trộm là thi nhân, nên đối tượng của cái nhìn đó được thi vị hoá, phơn phớt đượm vẻ khêu gợi, thứ khiêu dâm nhẹ nhàng, úp úp mở mở trong mộng tưởng và trong ngôn ngữ:
Ngữ ngôn bừng dậy đầu hang khê đầu (BG.45).
Ta hãy đọc thêm câu sau:
Cái quần cái áo là bao
giá bao nhiêu mộng mỵ nào là mơ (BG.48)
Bên cạnh “cái quần cái áo”, vốn là những tấm vải che thân, ngôn từ “là bao” được dùng để đặt một câu hỏi về số lượng, hay chỉ để ám chỉ vật thể “bao” bọc bên ngoài. Câu này cũng cho ta nghi rằng, ngôn ngữ qua tay Bùi Giáng chỉ là cái “quần”, chiếc “áo” bọc ngoài tư tưởng và ý thơ. Phía trong thân thể của thơ, của “thy ngữ” là “mộng mỵ”, là mơ, là hẹn hò chờ đợi. Làm thơ và đọc thơ là làm tình với ngôn ngữ. Và thơ Bùi Giáng là tiếng gọi tình miệt mài trong đam mê:
Hỏi rồi hỏi nữa, hỏi hoài
Hỏi liên miên gọi tình hoài mê man (BG.49)
Cách độ dùng ngôn ngữ trong thi ca Bùi Giáng láy đi láy lại như nhịp độ một câu thần chú (incantation) hoặc theo nhịp tụng “mantra”:
Nền thi nhạc nếp hây hây…
Nền vô vi vút vi vèo (BG.32)
Ngôn ngữ đã sống hộ cho thi nhân, theo cung vần xoay bậc tái sinh, như bài thơ sống lại một lần nữa. Đó là trường hợp của “Bài thơ số dzách” (BG.79) mà toàn thể đã tái sinh trong bài “Từng cơn” (BG.119). Thi nhân chỉ việc “chép” lại và thêm dòng tái bút: (Vui quá giả bộ buồn), rồi đổi tên thành bài mới. Như vậy, Bùi Giáng đã sống chọn vẹn quan niệm thơ là thái độ với thơ. Mỗi khi chép lại, đọc lại một bài thơ là đã sống lại bài thơ đó một lần nữa, một cách khác. Người đọc hoặc ngâm thơ cũng có thể coi là đồng-thi-nhân, được tái nhiệm để tiếp tục công việc còn dang dở của người viết đầu tay chưa diễn tả hết lời, chưa sống hết độ thơ.
Nếu Bùi Giáng chỉ là người “chép tờ cuồng loạn ….chép câu gây cấn” (BG.135,192); “chép tờ mê hoặc thơ ngây” (BG.182); cũng như “chép tờ thạch lưu (BG.191), thì bài thơ đó cũng đã trở thành “bài thơ vô lượng” (BG.117) đang kết chùm thiên nhạc với giấc mơ, và có khả năng
đổi thay tình mộng vô cùng
đổi vô biên với điệp trùng đối nhau
(BG.29).
Ngay trong “tim thơ rướm máu” và trần tục, Bùi Giáng đã vượt qua phân cách và đối nghịch để về lại chốn vô biên — nơi vô lượng và vô thường nhập thành một.

TS. Lưu Nguyễn Đạt
(TRÍCH VĂN LUẬN, CỎ THƠM, 2000)
www.vietthuc.org

Mượn Dấu Thời Gian — Bùi Giáng

October 13, 20120 Bình Luận
Bùi Giáng
Bùi Giáng
Sinh 17/12/1926 ( Quảng Nam)
Mất lúc 14 giờ ngày 07/10/1998 tại Sài Gòn vì tai biến mạch máu não
Hưởng thọ 73 tuổi
Nhà Thơ, Nhà Văn, Dịch giả
Bút danh khác: Trung niên thi sĩ, Bùi Giàng Búi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng
Biệt danh: Đười ươi Thi sĩ
“Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang”Bùi Giáng
Nguyễn Du
Phạm Thái


Nét vẽ bút bi của Bùi Giáng   
1988Còn trăm con mắt đười ươi khóc người



                                                                                           pnfoto
Hommage à Bùi Giáng
Collage: Phan Nguyên
Bùi Giáng: Tiểu sử tự ghi
Đười Ươi Chân Kinh
nxb Hội Nhà Văn
 
Tác phẩm đã xuất bản
Tập Thơ
Mưa Nguồn (1962)

Lá Hoa Cồn
Màu Hoa Trên Ngàn 
Ngàn Thu Rớt Hột (1963)


Bài Ca Quần Đảo (1963)
Sa Mạc Trường Ca (1963)

Sa Mạc Phát Tiết (1972)

Mùi Hương Xuân Sắc (1987)

Rong Rêu (1995)

Đêm Ngắm Trăng (1997)

Thơ Bùi Giáng  (Montréal, 1994)
  Thơ Bùi Giáng  (California, 1994)
Mười Hai Con Mắt (2001)

Thơ Vô Tận Vui (2005)


Mùa Màng Tháng Tư (2007)

Nhận Định
Một vài nhận xét về
Bà Huyện Thanh Quan
Một vài nhận xét về
Lục Vân Tiên
 Chinh Phụ Ngâm
Quan Âm Thị Kính
Một vài nhận xét về truyện Kiều
và truyện Phan Trần

(Tất cả đều được xuất bản năm 1957)

Giảng Luận
Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu
Giảng luận về Chu Mạnh Trinh
Giảng luận về Tôn Thọ Tường
Giảng luận về Phan Văn Trị
(Tất cả đều được xuất bản năm 1957- 1959)

Triết Học
Tư Tưởng Hiện Đại (1962)

Martin Heidegger
Tư Tưởng Hiện Đại I và II (1963)
Sao Gọi Là Không Có Triết Học Heidegger? (1963)

Dialogue (viết chung, 1965)

Tạp Văn
Các sách xuất bản năm 1969:

Đi Vào Cõi Thơ
Thi Ca Tư Tưởng
Sương Bình Nguyên
Trăng Châu Thổ
Mùa Xuân Trong Thi Ca
Thúy Vân
Các sách xuất bản năm 1970:
Biển Đông Xe Cát
Mùa Thu Trong Thi Ca
*
Các sách xuất bản năm 1971:

Ngày Tháng Ngao Du
Đường Đi Trong Rừng
Lời Cố Quận
Lễ Hội Tháng Ba
Con Đường Ngã Ba – Bước đi của Tư Tưởng
  
Sách Dịch

Các sách xuất bản năm 1966:
Trăng Tỳ Hải
Cõi Người Ta
 Khung Cửa Hẹp
Hoa Ngõ Hạnh
  
Othello
Trường Học Đờn Bà
Các sách xuất bản năm 1967:

Tùy bút Tạp bút Thần thoại Hy Lạp
Bạo Chúa Caligula
Ngộ Nhận
Kim Kiếm Điêu Linh
*
Các sách xuất bản năm 1968
Con Người Phản Kháng
Mùa Hè Sa Mạc
Kẻ Vô Luân
*
Các sách xuất bản năm 1969

Nhà Sư Vướng Lụy
Ophelia Hamlet
Hòa Âm Điền Dã
Các sách xuất bản năm 1973 & 1974:


Hoàng Tử Bé (1973)
Mùa Xuân Hương Sắc (1974) ???
Và nhiều tác phẩm khác chưa được thống kê đầy đủ
Đặng Tiến : Bùi Giáng, Sơ thảo tiểu truyện
Nhạc: Trịnh Công Sơn
Ý thơ: Bùi Giáng
Nguyễn Hưng Quốc: Trường hợp Bùi Giáng
http://www.dactrung.com/Bai-bv-444-Truong_Hop_Bui_Giang.aspx



Trịnh Công Sơn vẽ Bùi Giáng


Bùi Giáng le beau gosse 89
  
  
  
Trịnh Công Sơn đàn, Bùi Giáng múa
Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn
Ngô Văn Tao: Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn
http://www.tcs-home.org/ban-be/articles/bui-giang-va-trinh-cong-son/Em Đi Bỏ Mặc Con Đường
Nét vẽ bút bi của Bùi Giáng

Bùi Giáng tự họa
Búi Giàng vẽ Đường Kinh Họa Sỹ. 1988
Bùi Giáng vẽ Trịnh Công Sơn
*
Quê Chàng là Ithaque

Bức tranh hiếm hoi còn lại sau cơn hỏa hoạn đã thiêu rụi căn gác và toàn bộ những bức tranh của thời “Bùi Giáng họa sĩ”
Thụy Khuê: Hiện Tượng Bùi Giáng
http://chimviet.free.fr/tacpham1/stt2/BUIGIAN1.html

Thư Thanh Tâm Tuyền viết gởi …đảo xa.
Sài Gòn 27.7.1973

Rồi sau buổi tối mới tới Trung niên thi sĩ. Thảm lắm. Leo lên leo xuống cầu thang tìm hộc hơi. Kéo đi uống cà phê, ăn bánh, cười lú khú như “đười ươi” cả. Hắn đói. Đói đúng nghĩa.
Cung Tích Biền: Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du
http://tuhoaitan.blogspot.com/2008/12/cung-tch-bin-bi-ging-nh-th-ca-ngy-thng.html
Kỳ nữ Kim Cương

Kim Cương tại đám tang Bùi Giáng
  
Tình sử Bùi Giáng – Kim Cương
Thơ Trịnh Cung 

(lần đầu tiên phổ biến)
Ngày 15/02/2012

Ngày cuối năm gặp Bùi Giáng

Trưa ngày cuối năm dần
Ta ngược về gia định
Tìm nhành mai chợ tàn
Giữa dòng người xô đổ
Ngược xuôi lờ hỏi han
Ta tìm mai chẳng thấy
Gặp Bùi Giáng giữa đàng
Áo vá chằng lấm láp
Lưng đeo bó hoa vàng
Miệng cười lòng tuôn chảy
Một dòng thơ thay xuân
Miệng cười hồn treo pháo
Mừng đời thơ thênh thang


29 tháng chạp năm Dần
28.1.87

Trịnh Cung


  
  
Bùi Giáng & Đinh Cường
Đinh Cường vẽ Bùi Giáng
  
  
  
Lục bát tặng Đinh Cường

                               Niềm vui tao ngộ xa dần

                                                     Còn riêng ở lại

                                                               một lần này thôi !
                                                       9 -8 – 86
                                                                Bùi Giáng 
                                                        Tục gọi là (B.v.Bốn)

 Tuyển tập về nhà thơ Bùi Giáng
Võ Đình vẽ Bùi Giáng
  
Bùi Giáng hai tháng trước khi qua đời 
vì tai biến mạch máu não, tháng 08/1998
Mộ phần thi sĩ Bùi Giáng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức
Tọa đàm thơ Bùi Giáng
Collage PN
“Vui thôi mà”
“Vui thôi mà”
“Vui thôi mà”
Nguồn: E.E – Emprunt Empreinte – Mượn Dấu Thời Gian
Nguồn chính xác của trang Bùi Giáng:
E.E - Emprunt Empreinte - Mượn Dấu Thời Gian

http://phannguyenartist.blogspot.com/2012/02/bui-giang.html

***********************************