Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Nguyễn Bá Trác: “Hồ Trường” — Diễn ngâm: Tôn Nữ Lê Ba


August 8, 2013One Bình Luận
Nguyễn Bá Trác
Hồ trường
Thơ: Nguyễn Bá Trác
Diễn ngâm: Tôn Nữ Lê Ba
 
Nghe >> https://www.box.com/s/43n9lncqkeh8nklsb0jg 
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phủ cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Non nước một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá giương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say
Lòng ta ta biết, chí ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.
 

VIDEO: Hồ Trường – Trần Lãng Minh Ngâm Thơ

August 8, 20130 Bình Luận
Nguyễn Bá Trác 
Hồ trường 
Thể thơ: Phú (thời kỳ: Hiện đại)

Đại trượng phu,  Không ưa hề xẻ gan, bẻ cật.  Phủ cương thường,  Hà tất tiêu dao. 
Công chưa thành,  Danh chẳng đạt.  Tuổi trẻ bao năm mà đầu bạc,  Trăm năm thân thế bóng tà dương. 
Vỗ gươm mà hét,  Nghiêng bầu mà hỏi:  Trời đất mang mang,  Ai người tri kỷ ?  Lại đây cùng ta,  Cạn một hồ trường! 
Hồ trường, hồ trường,  Ta biết rót về đâu ? 
Rót về Bắc phương,  Ngọn Bắc phong vi vút,  Cát chảy đá tuôn! 
Rót về Nam phương,  Miền Nam nghìn dặm thẳm…  Non nước, một màu sương! 
Rót về Đông phương,  Nước biển Đông chảy xiết,  Sinh cuồng loạn! 
Rót về Tây phương,  Mưa Tây sơn từng trận,  Chứa chan! 
Có người quá chén,  Như điên như cuồng. 
Nào ai tỉnh ?  Nào ai say ?  Chí ta, ta biết.  Lòng ta, ta hay.  Nam nhi sự nghiệp ư Hồ thỉ,  Hà tất cuồng sầu đối cỏ cây.

www.vietthuc.org


Khóc Cười Theo Mệnh Nước Nổi Trôi, Nước Ơi: “Dư Thương” hay “Hồ Trường”? - Chân Phương

August 8, 20130 Bình Luận

Chân Phương: Ảnh hoa hồng chụp trong thời gian vừa qua, xin tặng chị Như Nguyện và cô Hạnh
“Tú, phải em không? Chắc em coi cái này thì biết thật, hư!”
Giáo Sư Dương Như Nguyện

Đó là nội dung của email message mà Giáo Sư Dương Như Nguyện đã gửi đến chúng tôi trong khoảng trung tuần tháng Bảy vừa qua. Bên dưới message ngắn gọn đó là email forwarded với nội dung dài hơn mười  chín trang vừa đánh máy vừa kèm hình ảnh vẽ và chụp. Bài “biên khảo” do một tác giả, ông Phí Ngọc Hùng (Thằng Bờm) tổng kết lấy ý kiến từ nhiều “khảo cứu” của các tác giả khác nhau về bài thơ được chuyển thành lời ca Nam Phương Ca Khúc – Hồ Trường mà cụ Nguyễn Bá Trác đã đăng trong Nam Phong Tạp Chí trước tiên bằng Hán văn, rồi sau đó dịch lại bằng Quốc Ngữ trong ấn bản tiếng Việt. Trong giới hạn bài này, chúng tôi sẽ không cắt và dán lại toàn bộ mười chín trang đó mà chỉ đề cập đến nội dung cần được phản biện và làm sáng tỏ mà thôi.
 
Chúng tôi cũng xin được cảm ơn GS Dương Như Nguyện vì đã nêu câu hỏi ngắn nhưng rất hay trong một đề tài mà chúng tôi đã từng chú  ý từ hơn nhiều năm trở về trước mà chưa có dịp đúc kết thành một bài viết hoàn chỉnh. Nhờ thắc mắc này của GS, chúng tôi đã có được nỗ lực trong những ngày qua để tìm hiểu tại sao văn đàn trong nước và hải ngoại đã để cho những chuyện như thế này, có thể xảy ra một cách vô cùng hài hước, một cách đáng tiếc như vậy.

Trang trong tờ Nam Phong Tạp chí
 
Truy tầm của chúng tôi trên internet cho bài thơ Nam Phương Ca Khúc nguyên tác Hán văn có được theo Nam Phong Tạp Chí là như sau:
 
丈夫生不能披肝折檻,爲世扶綱常。 逍遙四海,胡爲乎此鄉。 囘頭南望邈無極兮,天雲一色徒蒼蒼。 立功不成,學不就,少壯有幾辰兮,坐視百年身世驅陰陽。 撫掌狂歌問斯世,茫茫天地,安得知一知已兮,試來對酌佑予觴。 予觴擲向東溟水,東溟之水萬隊起狂瀾。 予觴擲向西山雨,西山之雨一陣何汪洋。 予觴擲向北風去,北風揚沙走石飛殊方。 予觴擲向南天霧,霧中有人開口一飲蘧然醉。 天地宇宙渾相忘,予不醉矣,予行予志。 南兒自古事桑蓬,何必窮愁泣枌梓。
 
Với phần phiên âm Hán-Việt:
 
1. Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường 2. Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương 3. Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương 4. Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương 5. Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư thương. 6. Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan 7. Dư thương trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương 8. Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương 9. Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy 10 Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí 11. Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử
 
Và lời dịch của cụ Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác:
 
1. Trượng phu không hay sé gan bẻ cột phù cương thường; 2. Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương 3. Trời nam nghìn dậm thẳm, mây nước một mầu sương 4. Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thânthể bóng tà dương. 5. Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường. 6. Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu? 7. Rót về đông phương, nước bể đông chẩy xiết sinh cuồng lạn; 8. Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan 9. Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương; 10.Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng 11.Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay 12 Nam nhi sự ngiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.
 
Đem so sánh giữa phần phiên âm Hán-Việt và lời dịch của cụ Tiêu Đẩu, chúng ta dễ nhìn thấy dịch giả đã thêm câu số 6 “Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?”
 
Ngoài ra, hai chữ cuối “dư thương - 予觴” trong câu số 5 của bản phiên âm Hán-Việt đã được đổi thành “một hồ trường”. Rồi bốn câu tiếp theo đều dịch hai chữ “Dư thương - 予觴” trở thành “Rót về…” . Có lẽ tám mươi năm trước, cụ Tiên Đẩu đã không ngờ rằng chỉ vì quên ghi phụ chú Hán văn cho hai chữ “Hồ Trường” vào trong lời ca mà thế hệ con cháu cụ sau này đã phải tốn hao nhiều giấy mực rồi tự làm trò cười với nhau một cách thảm hại!
 
Con cháu cụ ngày sau đã khổ công giải thích về ý nghĩa của hai chữ “Hồ Trường” mà cụ dùng vào lời ca của mình… Để đến nỗi, một khi có người giải thích sai thì những kẻ còn lại chỉ biết châu đầu vào để mà quay cóp một cách mù quáng, hoàn toàn thiếu suy xét:
 
1. Đầu tiên, chúng tôi chú ý đến ý kiến của bài viết mang tính chất “nghiên cứu” của tác giả Phạm Thắng Vũ. Trong bài viết của mình, ông PTV đã giải thích về chữ “Hồ Trường” như sau:
 
Hồ Trường, chữ Hồ thuộc bộ Sĩ mang nghĩa cái bầu hay cái bình dùng để chứa chất lỏng và chữ Trường (hay còn đọc là Thương trong tiếng Tàu) thuộc bộ Giác mang nghĩa chén đựng rượu.”
 
 
 
2. Trước đó vài năm, nhà “nghiên cứu” Phạm Hoàng Quân trong website của báo Tuổi Trẻ trong nước, số ra ngày 9/25/05 viết về chữ “Hồ Trường” này như sau:
 
Chữ “Thương” ở cuối câu thứ năm (được lặp lại nhiều lần trong lời ca) có thể đọc là “trường” hay “tràng” mà Nguyễn Bá Trác đổi thành “Hồ trường”, từ một chữ “thương” biến thành hai chữ “hồ trường” rồi thành hẳn tên bài ca, kể cũng kỳ thú!
Thương có ba nghĩa:
1. Là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng, “thương” là chén rót đầy rượu, khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”;
2. Mời rượu người khác một cách kính trọng gọi là “thương”. Sách Lã Thị Xuân Thu – thiên Đạt Úc có câu “Quản tử thương Hoàn Công” (Quản Từ kính cẩn mời rượu Tề Hoàn Công).
3. Tự uống rượu một mình gọi là “thương”, Phạm Thành Đại trong bài “Túc tư khẩu thỉ văn nhạn” có câu “bá tửu bất năng thương” (nâng ly khó uống một mình).
Khi dịch nghĩa NPCK, chúng tôi dùng nghĩa “thương là chén rượu đầy”. Còn từ “hồ trường” trong lời ca Hồ trường là sự sáng tạo của dịch giả Nguyễn Bá Trác, chúng tôi không dám lạm bàn.
3. Ngay cả đài Á Châu Tự Do, RFA, ngày 4/1/2011 biên tập viên Mặc Lâm cũng có bài viết về lời ca của “Hồ Trường” và trích lại lời giải thích của “nhà nghiên cứu PHQ” như sau:
 
Chữ “thương” trong  bài Hồ Trường
Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân thì điểm đặc biệt nhất của bài Hồ Trường là chữ “thương” ở cuối câu thứ 5 đã đựơc lập lại nhiều lần trong lời ca. Chữ này có thể đọc là “trường” hay “tràng” đều đựơc. Nguyễn Bá Trác đã sáng tạo từ một chữ “thương” đơn giản thành chữ “Hồ trường” rồi thành hẳn một bài ca thì cũng là điều kỳ thú.
Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân phân tích chữ “thương” trong bài ca như sau:
 
Thứ nhất, “thương” là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng, “thương” là chén rót đầy rượu, khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”;
Thứ hai, khi mời rượu người khác một cách kính trọng gọi là “thương”.
Thứ ba, khi tự uống rượu một mình cũng gọi là “thương”, Phạm Thành Đại trong bài “Túc tư khẩu thỉ văn nhạn” có câu “bá tửu bất năng thương”  có nghĩa là nâng ly khó uống một mình.
  
 
4. Cuối cùng, ngay cả Viện Việt Học với các Giáo Sư và học giả về ngôn ngữ Việt-Hán-Nôm cũng tán hươu tán vượn về tương quan của chữ “Hồ Thường” và chữ “Thương” trong bài thơ – lời ca Phương Nam Ca Khúc – Hồ Trường:
 
Ý kiến của thành viên hồng lăng ba:
Chữ 觴 có thể đọc là :
1. THƯƠNG
2. TRÀNG
3. TRƯỜNG
Tương chích đạm Chu Hợi
Trì TRƯỜNG khuyến Hầu Doanh (Hiệp khách hành – Lý Bạch)Kim Lăng đệ tử lai tương tống Dục hành bất hành các tận TRƯỜNG (Kim Lăng tửu tứ ly biệt – Lý Bạch)Bộ 148 角 giác [11, 18] 
觴 thương, tràng, trường
觞 
shang1 
Gọi chung chén uống rượu. ◇Lí Bạch 

李白: Phi vũ thương nhi túy nguyệt 飛羽觴而醉月(Xuân dạ yến đào lí viên tự 春夜宴桃李園序) Nâng chén vũ (khắc hình chim có lông cánh) say với nguyệt.
2. Cái chén đã rót rượu. Tư Mã Thiên 
司馬遷: Hán công khanh vương hầu, giai phụng thương thượng thọ 漢公卿王侯, 皆奉觴上壽 (Báo Nhậm Thiếu Khanh thư 報任少卿書) Các công, khanh, vương, hầu nhà Hán đều nâng chén rượu chúc thọ thiên tử.
3. Lạm thương 
濫觴, xem chữ 濫 ở bộ thủy 水: lạm tràng 濫觴.
4. §Ghi chú: Ta quen đọc là chữ tràng hay trường.

 
Ý kiến của thành viên lhk:
 Tìm hai chữ hồ trường trên internet thì thấy hai chữ này trong bài ‘qui khứ lai từ ‘ của Đào Tiềm trong đó có câu : 引壶觞以自酌(nâng nậm và chén tự rót rượu cho mình?)Có người lại trích hai câu thơ của Bạch Cư Dị : 东都添个狂宾客,先报壶觞风月知.Trong quyển từ điển do ‘Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã’ phát hành tôi cũng thấy hai chữ này với mấy chữ giải thích : 

壶觞 (书)酒壶和酒杯,借指酒
NBT lấy hai chữ này để làm tên khúc ca có lẽ chỉ mượn hai vật kiện dùng để uống rượu mà nói ra chút tâm sự. Câu ca « hồ trường, hồ trường, rót về đâu » mấy chữ « hồ trường » chỉ làm rõ nghĩa để ta hiểu ông NBT rót cái gì. Nếu muốn nói rót trà thì ông ta có thể nói « chén tống chén quân , rót về đâu ? » và dĩ nhiên người sau sẽ không cho là tối nghĩa và tưởng tượng bao nhiêu chén lớn chén nhỏ rơi xuống như mưa :-) lhk.]
 
Ý kiến của thành viên nhosinh:
Cảm ơn diễn đàn viethoc.org. Tôi đọc đề mục “hồ trường” thấy hay quá. Và thấy có diễn giả kể “cái chuyện lòng” mang vẻ giai thoại dã sử, lại có diễn giả suy diễn theo kiểu phê bình văn học “Hồ là cái bình. Trà hồ là cái bình tích, chứa trà.Cái ấm có quay, có đai …dùng để hâm rượu, pha rượu, chế trà .Vậy cò Trường (dài) , hay Trưởng (lớn) …thì là cái gì.” Cho nên tôi phải tốn thời gian tra cứu xem. Tra trong Từ Nguyên cũng có mục “hồ trường”, và cũng dẫn văn thơ Đào Uyên Mính (đời Tấn), Bạch Cư Dị (đời Đường),giống như diễn giả lhk đã tra trên internet. Một cuốn từ điển khác còn cho hình một số vật mà Hán ngữ gọi là “hồ”. Tôi xin copy ra đây, muốn bày tỏ văn chương Trung Quốc cũng miêu tả những việc, những sự vật v.v… bình thường trong đời sống thôi. Chỉ vì ta đọc qua âm Hán Việt, nhiều khi lại tự tạo cho ta cái cảm giác huyền bí, cao sang không đáng có. Theo tôi, thật ra thì Việt Nam là một trong những xứ đẹp nhất, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhất trên thế giới. Tôi đã gặp nhiều người Trung Quốc ca tụng và ước ao sang du lịch Việt Nam (trong đó có ông cựu lãnh sự, giáo sư nổi tiếng cha của ba bốn giáo sư khác ở Bắc Kinh, và cả người bình dân ở Nam Ninh). Tôi không thích cái tính xem trọng kiểu “phê bình văn học” của ngưuời Việt đối với Trung Quốc, lại cảm thấy rất dị biệt với những sinh viên đại học Mỹ học cổ Hán văn mà cười Dự Nhượng đả long bào một cách khùng (crazy), còn cái giỏ cơm bầu nước của Nhan Hồi thật không thể nào hiểu nổi. Cho nên, xin phép copy các hình của cái “hồ” và cái “trường” tra trên internet để tán đồng diễn giả lhk.民国时期的酒壶 
512 x 384 – 46k – jpg
中国古代的酒杯-羽觞
www.hcda.gov.cn
清素身羽觞
86 x 64 – 5k – jpg
www.gg-art.com
羽觞
250 x 188 – 21k – jpg
zh.wikipedia.org
大茶壶 
小茶壶 
水壶 
烧水壶
背壶 
喷壶
………………..
Xin lỗi vì copy mà dán sang đây nó không lên hình. Hình tôi tra gồm: tửu hồ là các loại bình rượu, hủ rượu; “trường” là các loại chén, tách uống rượu; “đại trà hồ” là ấm trà loại lớn; “tiểu trà hồ” là ấm trà loại nhỏ; “thủy hồ” là ấm nước, bình nước; “thiêu thủy hồ” là ấm nấu nước; “bối hồ” là bình có đai để đeo lên vai, ví dụ như cái bi đông đựng nước của lính; “phún hồ” là cái thùng đựng nước tưới cây .v.v… 
 
Hiện nay còn rất nhiều ý kiến tương tự của các tác giả khác nhau tán hươu tán vượn về ý nghĩa của hai chữ “Dư Thương” và “Hồ Trường” trên internet. Chỉ cần google nhóm chữ “Hồ Trường Nguyễn Bá Trác”, chúng ta có thể tìm được cơ man nào là nội dung giống nhau là “Hồ Trường” được dịch giả Nguyễn Bá Trác liên tưởng và phù phép từ chữ “thương, có nghĩa là chén đựng rượu”.
 
Tuy nhiên, để tránh tình trạng “sông dài biển rộng” của bài phản biện này, chúng tôi cho rằng trích dẫn như thế đã là thừa thãi!
 
Vâng, chỉ vì cụ Tiên Đẩu đã quên không ghi phụ chú cho hai chữ “Hồ Trường” mà các con các cháu cụ sau này đã hàm hồ đoán bậy rồi lại níu áo quay cóp cái sai đó lẫn của nhau một cách đáng xấu hổ.
 
Chúng tôi xin được phép liệt kê những cái sai và copied lẫn của nhau trong việc giải thích các chữ “Dư Thương”, “Hồ Trường” cũng như mối tương quan giữa hai chữ này như sau:
 
1. Trước tiên là phân tích và giải thích của ông Phạm Thắng Vũ về chữ kép Hán-Việt “Hồ Trường”. Ông đã viết:
 
[Hồ Trường, chữ Hồ thuộc bộ Sĩ mang nghĩa cái bầu hay cái bình dùng để chứa chất lỏng và chữ Trường (hay còn đọc là Thương trong tiếng Tàu) thuộc bộ Giác mang nghĩa chén đựng rượu]
 
Lời tuyên bố trên của ông PTV chỉ đúng được một nửa khi nói đến chữ đơn âm “Hồ -壺”. Nửa còn lại khi ông nói đến chữ “Trường – (người viết tạm thời bỏ trống Hán tự nơi này)” thì hoàn toàn không đúng. Chữ “Trường” này không thuộc bộ “Giác -角” như ông và nhiều người khác nghĩ như thế.
 
2. Chữ Hán đơn âm “Trường” trong “Hồ Trường” hoàn toàn không thể được đọc là “Thương”. Và, chữ “Thương - 觴” thuộc bộ “Giác” này cũng không được đọc là “Trường” trong mọi cuốn tự/từ điển Hán văn nào cả, ngoại trừ cuốn tự điển online của website hanviet.org.
 
Phải chăng các tác giả nghiên cứu đã bị lỗi sai đó vì đã dựa vào cái sai của cuốn từ điển online này?
 
3. Ông Phạm Hoàng Quân có lẽ là người đầu tiên đưa ra lý thuyết của việc biến đổi và chiết tự từ chữ “Thương - 觴” để trở thành chữ “Hồ Trường”. Ông viết:
 
Chữ “Thương” ở cuối câu thứ năm (được lặp lại nhiều lần trong lời ca) có thể đọc là “trường” hay “tràng” mà Nguyễn Bá Trác đổi thành “Hồ trường”, từ một chữ “thương” biến thành hai chữ “hồ trường” rồi thành hẳn tên bài ca, kể cũng kỳ thú!
Thương có ba nghĩa:
1. Là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng, “thương” là chén rót đầy rượu, khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”;
2. Mời rượu người khác một cách kính trọng gọi là “thương”. Sách Lã Thị Xuân Thu – thiên Đạt Úc có câu “Quản tử thương Hoàn Công” (Quản Từ kính cẩn mời rượu Tề Hoàn Công).
3. Tự uống rượu một mình gọi là “thương”, Phạm Thành Đại trong bài “Túc tư khẩu thỉ văn nhạn” có câu “bá tửu bất năng thương” (nâng ly khó uống một mình).
Khi dịch nghĩa NPCK, chúng tôi dùng nghĩa “thương là chén rượu đầy”. Còn từ “hồ trường” trong lời ca Hồ trường là sự sáng tạo của dịch giả Nguyễn Bá Trác, chúng tôi không dám lạm bàn.
 
Một lần nữa, nếu ông PHQ cẩn thận hơn sẽ hiểu rằng chữ “Thương - 觴”  không thể đọc là “trường” được cho dù nó có được đọc là “tràng” trong chữ “lạm tràng”- 濫觴”.
 
4. Trong mục số 3. bên trên, ông PHQ cũng không đúng khi [dùng nghĩa “thương là chén rượu đầy”. ]  Ông đã quên rằng không thể dịch một mình chữ [thương là chén rượu đầy” ] khơi khơi là danh từ một cách ngớ ngẩn như thế:
 
Khi “thương - 觴”  đứng sau ““Dư - 予”  theo trật tự như này “Dư thương - 予觴”., thì ngay cả các cháu học sinh tiểu học người Tàu cũng hiểu rằng một chữ là đại danh từ ngôi thứ nhất “ta/tôi” và chữ kia phải là động từ chứ không thể là một danh từ được!
 
Như thế, “Dư thương - 予觴” rõ ràng không có nghĩa gì khác hơn là “tôi (xin được) mời/rót rượu”
 
Vì lẽ đó mà các bốn câu liên tiếp 7, 8, 9, và 10 trong lời ca “Hồ Trường”; cụ Nguyễn Bá Trác đã dịch là “Rót về (Đông-Tây-Nam-Bắc) phương…”
 
5. Chúng tôi đã mừng húm khi vào đến diễn đàn của Viện Việt Học và đọc được ý kiến của thành viên “nhosinh” như sau: [Tra trong Từ Nguyên cũng có mục "hồ trường", và cũng dẫn văn thơ Đào Uyên Mính (đời Tấn), Bạch Cư Dị (đời Đường),giống như diễn giả lhk đã tra trên internet.  ]. Nhưng lại thất vọng ngay sau đó vì thành viên này đã không cho biết chữ “hồ trường” đó đã được viết ra sao bằng Hán văn và được giải thích thế nào. Tiếc thay, chúng tôi cũng không có được Từ Nguyên từ điển để tra cứu như gợi ý của thành viên nhosinh này… Vẫn là bế tắc!
 
6. Như thế “Hồ Trường” có nghĩa là gì và được viết ra sao mà ngay cả Viện Việt Học danh giá như thế cũng không tìm ra được?
 
Thật ra, nó là một chữ khá dễ và nằm trong ngôn ngữ hằng ngày của người Trung hoa. Tuy nhiên, các nhà “ngôn ngữ” và “nghiên cứu” của chúng ta đã xem thường dân số hằng tỷ người Tàu để chỉ tin tưởng vào trí tưởng tượng phong phú cũng như tài năng quay cóp của mình trong khi làm bài kiểm tra nên mới ra nông nỗi thảm thương của ngày hôm nay.
 
Họ đã dùng cái lý lẽ rằng chữ “thương - 觴” được phát âm là “trường” để bịt mắt mình một cách thảm hại… và đi vào góc cùng của lý lẽ, mãi không chui ra được(!)
 
7. Trong bản dịch lời ca, “Hồ Trường” chỉ xuất hiện ba lần rất liền nhau trong hai câu số 5. và số 6.:
 
5. Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường. 6. Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
 
Rõ ràng, từ câu 5. chúng ta có thể nói “hồ trường” là một danh từ để chỉ một chiếc ly hoặc bình/nậm dùng để uống rượu. Sang đến câu 6. và tiếp theo các câu 7, 8, 9, và 10; thì chẳng có gì khác hơn, “hồ trường” chính là chiếc bình hoặc nậm dùng để đựng rượu, rồi từ đó mới được rót ra (ly/ chén).
 
Vâng, chẳng cần biết đến Hán văn Hán tự, mà chỉ bằng lý lẽ và sự quan sát như mục số 7/ vừa qua, chúng ta cũng có thể đoán được gần chính xác “hồ trường” có nghĩa là gì!
 
8. Giá như các nhà “khảo cứu” của chúng ta chỉ cần thành thật với chính mình trong vấn đề tìm hiểu và học hỏi, họ đã chẳng thể nào bị những “tai nạn đau đớn” bất ngờ như này.
 
Giá như họ tin vào chính đôi tai của mình để mà viết ra thành chữ “Hồ Trường, 壺長” thì họ đã không tự biến mình thành một trò khôi hài đáng tiếc như thế!
 
Giá như họ đã không quá lười biếng và xem thường cộng đồng dùng Hán văn làm ngôn ngữ hằng ngày, để mà bước ra khỏi “tháp ngà” của mình, nắm áo một ông lão người Tàu hoặc một cô xẩm xinh đẹp và lễ phép hỏi về chữ “Hồ Trường”. Chắc chắn họ đã có được câu trả lời tử tế, chính xác, và đứng đắn trong những tháng năm qua!
 
Vâng, chỉ cần google chữ 壺長 trên internet là chúng ta thấy được cơ man những hình ảnh của các ấm có vòi dài dùng để đựng và rót trà rót rượu mà tiếng Anh được gọi là “long beak pot”.
 
Đến đây, chúng tôi chỉ xin kết thúc nhiệm vụ viết và giải thích ý nghĩa của chữ “Hồ Trường -壺長” theo Hán văn, những mong làm sáng tỏ một nghi vấn đã được đặt ra trong nhiều thập niên vừa qua. Chúng tôi không màng đến việc những cái sai đã có nguồn gốc từ đâu cũng như nhà nghiên cứu nào đã quay cóp của nhà khảo cứu nào… Cho dù quay cóp như thế là việc làm thiếu lương thiện của người cầm bút!
 
Tuy nhiên một lần nữa,  như bài nhận định lần trước của chúng tôi về chữ “Vô Hình Chung vs. Vô Hình Trung” — http://www.vietthuc.org/2013/01/15/56474/, tệ nạn quay cóp thiếu lương thiện đã len lỏi vào sâu đến các bậc “học giả” và “trí giả” của dân tộc ta cả trong nước lẫn hải ngoại. Trong vai trò của người nghiên cứu, ban biên soạn từ điển, đại từ điển của cấp quốc gia; họ đã không làm tròn việc nghiên cứu chuyên môn của mình mà chỉ lo quay cóp lẫn nhau để phổ biến những kiến thức sai lạc đem hậu quả tàn phá tiếng Việt mà Cha Ông chúng ta khổ công vun đắp bao đời. Chẳng phải là điều mỉa mai và đáng tiếc lắm hay sao?
 
Chúng tôi không biết làm gì hơn ngoài tiếng thở dài trong đêm:
[Tư cách của "trí thức" còn là vậy, thì không chỉ tiếng Quốc ngữ bị suy thoái trầm trọng; mà ngay cả văn hóa của dân tộc ta ngày càng suy đồi và mai một, những đâu còn là chuyện lạ lùng?]
 
Một lần nữa, xin được cảm ơn Giáo Sư Dương Như Nguyện đã có thắc mắc và nghi ngờ để từ đó nhắc nhở chúng tôi phải viết bài này như để trả lời với GS:
 
Không, chị ơi! Thật là oan uổng cho em: Những bài “nghiên cứu” hàm hồ như thế, không bao giờ em có can đảm thò tay viết ra được. Chỉ có những bài như này, em gõ để trả lời thắc mắc của chị về tính cách hư-thực của các “công trình khảo cứu” kia, mới thật sự đến từ ngòi bút của em, chị ạ!
 
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi, tiếng ru muôn đời!
Tiếng nước tôi bốn ngàn năm ròng rã buồn vui!
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi, tiếng Mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!…
(Tình Ca – Phạm Duy)
 
Chân Phương
Falls Church, VA.
7.31.13

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Người giữ mầm cho Văn chương miền Nam - Tác giả: Hồ Phú Bông

|
uommam

Khoảng một, hay hai tuần, sau 30/4/1975, tôi và thằng bạn ngồi tại góc ngã tư đường Trương Minh Giảng – Trần Quang Diệu, là trạm xăng Shell cũ. Lúc đó không phải bán xăng mà người ta bày bán đủ thứ linh tinh, thượng vàng hạ cám. Một góc là quán nhậu dã chiến. Thằng bạn, lục trong tủ nhà của cô em, đem theo một chai Martel, Hennessy, Courvoisier hay Whisky chi đó còn sót lại. Hai đứa, dù chẳng phải là bợm nhậu, cũng cưa đứt. Ngồi nhìn Sài Gòn đang ngơ ngác. Ngồi nhìn Sài Gòn đang hoảng loạn. Ngồi nhìn Sài Gòn đang nhếch nhác. Chúng tôi cũng hoảng loạn, cũng ngơ ngác, cũng nhếch nhác. Cái gì sẽ đến cho bản thân và gia đình? Cái gì sẽ đến cho thành phố, cho xã hội miền Nam? Tự chọn ở lại quê hương là khôn hay dại? Phải chăng mức độ căng thẳng như thế, lớn hơn, mạnh hơn nồng độ cồn nên cả hai đứa vẫn tỉnh bơ, không xỉn?
Hai đứa tôi đã bỏ chạy khỏi Đà Lạt gần hai tháng trước theo hai ngã khác nhau. Hắn làm việc tại Ủy ban Điều hợp Quân sự bốn bên, theo Hiệp định Ba Lê về Việt Nam, ngay tại thành phố Đà Lạt.
Hắn kể, trước khi bỏ chạy đã kịp khuân ra sân đốt sạch tất cả sách vở giấy tờ trên kệ sách trong phòng khách của chúng tôi. Phần lớn sách trên kệ là tài liệu, về triết, về chính trị, đặc biệt là sách phân tích về chủ nghĩa cộng sản. Số còn lại là văn chương. Trong số sách đó tôi quý nhất là cả chục cuốn dày cộm có chữ ký của vị chỉ huy trưởng một quân trường, nơi tôi đã theo học. Đó là phần thưởng của hai giải diễn thuyết và biện luận.
Còn tại Sài Gòn thì thằng em tôi phải đem tất cả sách giao nộp cho công an để họ hỏa táng “văn hoá đồi trụy, tàn dư Mỹ-Ngụy”!
Tần Thủy Hoàng xưa, đốt sách! CSVN vào cuối thế kỷ 20 nay, cũng đốt sách của miền Nam! Mao đốt sách trắng thay bằng sách hồng trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, kèm theo sinh mạng 35 triệu dân Trung Quốc do bọn Hồng Vệ binh thi hành. Thì, CSVN cũng đốt sách của nền văn minh tự do miền Nam, đày ải hàng trăm ngàn quân cán chính vào các trại tập trung cải tạo. Chết bờ chết bụi, chết trong lao tù ở rừng sâu núi thẳm từ Nam ra Bắc do bộ đội và công an thực hiện!
Đốt sách là chối bỏ văn minh xã hội. Nhưng khi nền văn minh đã thấm đẫm vào từng tâm hồn, từng thớ đất của người miền Nam thì về mặt nổi, dù có biến thành tro bụi, nhưng phần chìm, phần nền tảng, vẫn còn nguyên. Và những tro bụi đó đã tự bay theo gió từ Nam ra Bắc trong thời điểm sớm nhất, ngay sau 30 tháng Tư. Là thời điểm hàng hàng lớp lớp, đủ loại xe bị trưng dụng, nối đuôi nhau chở tài sản cướp được về Bắc. Họ mang theo cả văn hóa, văn chương “ngụy” miền Nam, một loại rất quý hiếm lúc bấy giờ!
Còn Hà Nội thì ra sức trấn an phe “ta” trước sự choáng ngợp về tính tráng lệ, giàu có và văn minh tại miền Nam.
Họ ra rả lên án “nhạc vàng”, “văn hóa đồi trụy Mỹ-Ngụy”, kinh tế “phồn vinh giả tạo” của miền Nam!
Để đến bây giờ, tháng Năm năm 2013, nhiều nhà phân tích công nhận: Chính văn minh và kinh tế miền Nam đã giải phóng miền Bắc!
Miền Bắc chiếm được miền Nam bằng quân sự nhưng miền Nam giải phóng miền Bắc bằng tự do dân chủ và văn minh.
Giới văn nghệ sĩ miền Nam ngày đó cũng theo vận nước, tứ tán như bầy ong vỡ tổ. Cho dù chỉ 20 năm ngắn ngủi (1954-1975) được tự do, được tích lũy góp mật thu từ những tinh hoa của thế giới văn minh đem về, nhưng như thế cũng đã thừa đủ độ ngọt để làm ngọng những cái lưỡi gỗ tuyên truyền!
Trong số tứ tán đó thì nhóm Trần Hoài Thư lại lặng lẽ gom tụ tại nơi ở mới dù thời gian đã cướp gần cạn sinh lực đời người. Không còn khả năng, sức khỏe và sự nóng cháy của tuổi thanh niên. Không còn thời gian để khám phá chân trời mới của văn học nên nhóm quay về chủ trương khác. Chủ trương đi tìm lại những giọt mật bị tản lạc, rơi rớt mà cuộc tản hàng bất ngờ không thể mang theo. Những bản thảo chưa kịp xuất bản tại miền Nam, đã xuất bản nhưng chưa kịp phát hành, hay phát hành nhưng bị mai một vì tai ương của lịch sử nên bị rơi vào quên lãng… Cả nhóm từ từ tìm lại. Gom góp lại. Dù có lớp bụi thời gian che phủ nhưng cũng giống như bụi phủ trên gương soi. Thổi đám bụi bay đi, tấm kiếng sẽ sáng lại. Sẽ soi lại nhân dáng của một thời đã mất. Nhân dáng đó, dung nhan đó đang là chứng nhân cho lịch sử. Chẳng những lịch sử về chiến trận mà cả lịch sử về nhân văn miền Nam.
Cho đến bây giờ, thực tình tôi không biết nhóm Trần Hoài Thư đã gom góp được bao nhiêu tác phẩm. Đã đánh máy lại bao nhiêu bản thảo cũ nát, sao lục lại từ bao nhiêu thư viện, tái tạo được bao nhiêu sách. Chỉ biết là thỉnh thoảng thấy một tác phẩm tái sinh hay ra đời, kèm theo một tạp chí mang tên Thư Quán Bản Thảo, lâu lâu lại xuất hiện. Xuất hiện không theo định kỳ mà sách lại có giá trị, đạt tiêu chuẩn về phẩm và mỹ thuật!
Và lạ nhất, sách không bao giờ bán! Chỉ tặng. Gửi tặng qua bưu điện không đòi một xu tiền tem!
Tại hải ngoại đã có vô số những tạp chí, ấn phẩm có giá trị, xuất bản định kỳ để bán, sống dai dẳng được như Thế Kỷ 21, Văn Học, Văn Nghệ Tiền Phong… là rất hiếm. Nhưng cuối cùng cũng chết! Ấy thế mà sách của nhóm Trần Hoài Thư, với Thư Ấn Quán xuất bản thì còn đó. Xuất bản lặng lẽ, sống lặng lẽ, dù không đều mà không phải để bán.
Sách in ra, tạp chí in ra chỉ để tặng! Dứt khoát không bán! Mỗi ấn phẩm đều là công khó của nhóm chủ trương. Là tác phẩm của nghệ thuật. Như đứa con cầu tự của vợ chồng già!
Vì, nó là hạt giống văn chương miền Nam ươm mầm cho tương lai.
Trong nước thì chế độ cộng sản lo thủ tiêu. Ngoài nước thì nhóm Trần Hoài Thư lo gây mầm! So sánh lực lượng, một bên là chủ trương của nhà nước, một bên chỉ năm bảy người tự xoay xở kiếm sống và tằn tiện từng đồng, tự tay làm tất cả mọi việc in ấn để xuất bản. Một gã khổng lồ Goliath CSVN tỉ đấu với anh chàng tí hon David.
Nhưng lịch sử cho biết, David thắng!
Và hôm nay, cũng thế. Văn chương miền Nam ngày một được phục hồi. Miền Nam mất nhưng văn chương miền Nam không mất!
Sự thật, văn chương miền Nam vẫn sống như hơi thở của người miền Nam. Hơi thở của cuộc sống. Hơi thở đó là hơi thở của văn minh nhân loại, nên tự nó tồn tại.
Và con số hiếm hoi của những nhóm cố gắng giữ mầm văn chương trước bể dâu thời cuộc đó, phải kể đến nhóm Trần Hoài Thư.
Tôi tin văn chương miền Nam từ sau 30/4/1975 đến nay chỉ đang bị khô hạn nên không thể phát triển trong nước. Nhưng có được những tấm lòng như nhóm Trần Hoài Thư, như những bác nông dân cứ cố giữ tốt hạt giống cho vụ mùa, bất chấp nắng cháy, bất chấp khô hạn để chờ một ngày có cơn mưa lớn.
Cơn mưa làm hồi sinh!
Như mầm sống của cỏ cây, hoa lá chịu ẩn mình dưới băng tuyết với không gian tê cóng, rặt một màu xám xịt. Nhưng khi mùa Xuân đến, lại nhú mầm. Lại bùng lên nhiều loại hoa tuyệt đẹp giữa lớp băng tan. Chính những giọt thủy tinh lóng lánh còn vươn trên những cánh hoa đó lại có tác dụng làm hoa thêm đẹp, thêm tinh khiết.
Trong số sách nhóm Trần Hoài Thư tìm tòi, tái bản để giữ mầm đó tôi may mắn có được cuốn Cõi Đá Vàng của Nguyễn Thị Thanh Sâm.
Vì thế, mùa Xuân của văn chương miền Nam phải trở lại. Phải hồi sinh ngay tại Việt Nam như đã và đang bùng phát qua in chui, nhà xuất bản chui, phát hành chui.
Và, có lẽ, chỉ một Việt Nam XHCN mới có loại văn hóa phẩm mà phải chui!
Chúng ta có thể thờ ơ với nhiều thứ nhưng khó thể thờ ơ với văn chương. Vì, văn chương sẽ luân hồi. Chết đi và sống lại. Như văn chương miền Nam hôm nay.
© Hồ Phú Bông
© Đàn Chim Việt
http://www.danchimviet.info/archives/76956/nguoi-giu-mam-cho-van-chuong-mien-nam/2013/06 

Văn chương và con người - Tác giả: Đỗ Trường

|
Văn chương

Phàm đã là con người, ai cũng có lúc khôn lúc dại, lúc dở lúc hay, âu đó cũng là thường tình của người trần tục. Ngày còn học sư phạm, chúng tôi có được nghe một nhà tâm lý học nói đại ý rằng: Một đời người thế nào cũng có khoảng 4 đến 8 năm là thông minh hơn bình thường. Những người có năng khiếu và theo nghiệp văn chương, trong thời gian này, họ thường để lại những tác phẩm hay. Hoặc những nhà khoa học, các nhà chính trị cũng vậy, sự thông minh nổi trội cũng chỉ có trong khoảng thời gian như vậy mà thôi, có người bộc phát lúc trẻ, có người lúc trung tuổi, về già khả năng này thường không còn nữa. Chứ chẳng ai dám vỗ ngực nói, tài năng và thông minh cả đời. Điều đó là phi khoa học.
Ngẫm nghĩ ra quả là đúng thật, tôi có thằng bạn rất thân, học chung suốt từ cấp một cho đến hết cấp ba (hệ 10 năm). Những năm học cấp một, cấp hai, lực học của nó vào dạng thường thường hoặc trung bình. Lên đến lớp 8 lớp 9 lực học của nó cũng chưa có gì nổi trội. Nhưng đến lớp 10 lực học của nó vượt hẳn lên, làm cho mọi người rất ngạc nhiên, nhất là các môn tự nhiên. Như mọi người đều biết, những năm 1976-1977 làm gì đã có học thêm học nếm như bây giờ. Gia đình nó cũng như gia đình tôi đều nghèo. Buổi sáng chúng tôi đều phải nhịn đói đi học. Trưa về ăn vội vài bát cơm độn khoai lang khô, hoặc bánh mì hấp hôi rình, chiều chúng tôi lại phải làm giúp đỡ gia đình, tối mịt mới về nhà. Ăn uống qua quýt, rồi xem qua sách vở, mệt quá chúng tôi lăn quay ra ngủ. Nói thật ngày ấy không phải đóng tiền học phí, cứ như phải đóng tiền như bây giờ, có lẽ nó và tôi phải nghỉ học từ lâu rồi. Năm đó nó thi vào đại học bách khoa, đủ điểm đi du học ở Liên xô. Sau khi tốt nghiệp loại giỏi, nó về nước, được dậy ở trường đại học lớn có tiếng tăm ở Hà Nội. Chuyên môn của nó, nghe bạn bè kể lại là rất khá. Được đi làm luận án tiến sĩ ở một nước tư bản, sau đó nó được về lãnh đạo một khoa, thuộc chuyên môn của mình. Ở xa, nghe tin, tôi cũng mừng. Nhưng gần đây, tôi lại nghe kỳ đại hội vừa rồi, nó có chân trong ban chấp hành đảng ủy. Có lẽ nó sắp thành lãnh đạo của trường, xa rời chuyên môn của mình. Quả thật, tôi lo và tiếc cho nó quá.
Lại có ông bạn thân cũng cùng học khác. Thằng này học hành vào dạng làng nhàng, và chểnh mảng như tôi. Thi đại học thiếu mấy điểm, nhờ có bố là liệt sỹ, nên nó được gọi vào học dự bị. Tốt nghiệp, nó về nhận công tác ở một sở của thành phố. Thời bao cấp, lương ba cọc ba đồng, nên cuộc sống vợ chồng nó vất vả lắm. Năm 1990, sau mở cửa được mấy năm, nó bỏ việc, ra ngoài lập công ty chuyên sản xuất những thiết bị về công tắc, và dây dẫn điện. Bốn, năm năm đầu nó làm ăn phát đạt lắm. Năm 1994, tôi về dự đám cưới cô em gái út. Nó lái xe ô tô riêng ra sân bay đón tôi, nhìn rất phong độ. Hầu như chiều nào cũng vậy, sau khi tan sở nó cũng lái xe qua nhà đón tôi đi uống bia. Nghe nó nói về công ty và những hoạch định, tôi cho là nó có đầu óc sáng tạo. Đang làm ăn ngon lành như vậy, không hiểu ma đưa lối, quỉ dẫn đường như thế nào, nó lại kết hợp với người khác, mở rộng ngành nghề kinh doanh, sang cả lãnh vực xuất khẩu lao động. Bất chấp sự can ngăn của vợ con, và bạn bè. Nội tình vụ việc tôi không rõ như thế nào, hai năm sau vợ nó gọi điện báo tin, nó đã dính vào vòng lao lý, gia đình, tài sản tan nát cả.
Trong lãnh vực văn học, nghệ thuật cũng vậy, không phải lúc nào các văn nghệ sỹ cũng viết hay, viết giỏi. Tài năng của họ thực sự chỉ bộc lộ trong ít năm mà thôi. Người nào được đánh giá là những cây đa, cây đề trong làng văn học để lại cho đời vài, ba tác phẩm là cũng may mắn lắm rồi. Còn lại thật ra họ viết cả đời chỉ là những dạng văn kiếm sống mà thôi. Có cố gắng mãi cũng chỉ đẻ ra những quả trứng ung, trứng lép. Ở Đức, khi nào buồn buồn, mấy bác, mấy cụ nhà văn già(thuyền nhân) gọi điện cho tôi đến hầu, điếu đóm, rượu chè. Các cụ hay bàn đến những nhà văn nhà thơ lớn ở ngoài Bắc, như Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Chế lan Viên… Trước năm 1945, họ viết hay như vậy, sau khi tự đổi mình theo Việt Minh cây bút của họ bị trói buộc không viết được gì cả. Tôi chỉ ngồi nghe, không dám có ý kiến, sợ các cụ chưởng cho mấy nhát, nhỏ mà dám hỗn. Thật lòng tôi rất nể, phục kiến thức của các cụ, nhưng tôi không hẳn đồng ý những ý kiến đó. Tôi nghĩ rằng, tài năng của các bác nhà văn, nhà thơ trên, chỉ bộc lộ thực sự những năm khi họ còn trẻ, còn sau này họ không viết được như trước vì một phần tài năng họ đã cạn, chứ trói tay, trói chân không phải là nguyên nhân chính. Nếu họ còn tài năng, trói như vậy chứ trói nữa, họ vẫn viết được. Họ không được viết công khai, thì viết bí mật. Sách của họ không được in, không được phổ biến, nhưng họ có thể cất đi, lúc nào đó sẽ được in có sao đâu. Mà văn thơ viết ra đâu chỉ nhằm có một mục đích để in bằng giấy mực. Đã là các nhà thơ, nhà văn tác phẩm của họ phải in vào lòng độc giả, mới là những giải thưởng đích thực. Bằng chứng là các nhà thơ, nhà văn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu… mất đi, những phóng sự, bút ký, những bài thơ đậm chất cổ động như Hà Nội Ta Đánh Mỹ Giỏi, Sông Đà, Ngói Mới … cũng chết theo. Người ta cố tìm trong hành trang của người đã mất, xem có còn những miếng quặng chưa được khai phá hay không, mà có khi tác giả cố tình cất giấu sau “Vang bóng một thời” hoặc những câu thơ đầy tính lãng mạn, mượt mà “ Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi…”.. nhưng hoàn toàn thất vọng. Nhưng một bằng chứng khác, cho chúng ta thấy, có những tài năng càng cấm đoán, tù tội, lại càng viết hay. Những tài năng này viết ra, sách của họ có được in đâu. Nếu có in, họ cũng phải nhờ người khác đứng tên. Ấy vậy mà họ mất đi, những cái tên Phùng Quán, Trần Dần, Lê Đạt… đóng đinh vào lòng người đọc.
Có một chi tiết, tôi cho là thú vị, nhưng không biết có đúng hay không? Các văn nghệ sỹ (có lúc) bị đói một chút, có khổ một chút, có đắng cay một chút, dường như họ viết hay hơn. Các văn nghệ sỹ, sống trong bao cấp, viết bằng tài trợ, thường ít để lại những tác phẩm nào ra tấm, ra miếng. Bằng chứng là các văn nghệ sỹ của nhà nước, lâu lâu cùng nhau hội thảo, phát động phong trào viết về cái này, về cái kia… ở các nơi nghỉ mát (tất nhiên kinh phí là do nhân dân là các chủ nhân ông của đất nước gánh chịu). Sau đợt phát động này, các bác bắn ra một loạt tác phẩm đượm chất cổ động, nào là – Anh Chủ Nhiệm(bài thơ này, bao thế hệ học sinh phải ra rả đọc như quốc kêu, cho đến thuộc lòng như cháo) rồi đến những câu ca, tôi đứng trông sang nhà chị giỏi chăn nuôi, thấy đàn lợn béo, nước trong leo lẻo tưới mát cho từng con… Và đây còn kinh dị hơn nữa, cây súng bên mình cũng đẹp như em…Ôi giời, đất ơi! cái thứ vũ khí giết người, lạnh tanh như vậy mà các bác khen đẹp, mang so sánh với các cô gái duyên dáng Việt Nam ta. Dù có nâng lên đến chủ nghĩa này, học thuyết nọ, nghĩa đen hay nghĩa bóng, cũng chẳng rọi tìm được tính chân, thiện, mỹ trong văn học nào ở đây. Bây giờ ở Việt Nam ta, có rất nhiều hoa hậu, ứ hậu, thử hỏi có cô nào dám ôm cái của nợ này, lên sân khấu trình diễn không? Qua những những lần phát động này, thành quả sáng tác của các văn nghệ sỹ chẳng khác gì những đội sản xuất của hợp tác xã thời bao cấp.
Tháng 5 vừa rồi ở Đức có ngày đàn ông, các bà vợ cho các ông chồng xả láng. Chúng tôi, cánh đàn ông rủ nhau tụ tập rượu chè. Không hiểu ông bạn hàng xóm, đi bắt ở đâu về mấy con ngan, xắn tay áo một mình lụi hụi đánh tiết canh. Anh không cho ai giúp, sợ làm hỏng hàng độc. Chúng tôi quí anh, nhưng lại rất sợ nhậu cùng anh, vì anh uống rượu vào là hay nói lung tung, can mãi mà chẳng được. Bữa nhậu đang vui vẻ, xung quanh đề tài, làm sao giúp quí ông sinh được con trai hay gái theo ý muốn. Ông bạn hàng xóm này, bẻ ngoặt giò lái sang đề tài văn học, thế mới chết chứ. Đúng là rượu vào lời ra, chẳng ai chịu ai, toàn những đại học, với cựu nghiên cứu sinh mà cãi nhau cứ như mổ bò ấy. Ông hàng xóm, to mồm khảng định, nếu còn hội nhà văn của nhà nước, thì Việt Nam không bao giờ nhận được giải Nobel về văn học. Bằng chứng anh ta đưa ra, có nước không có hội nhà văn, mà họ vẫn có tác phẩm văn học nhận giải Nobel. Anh ta còn cả gan đề nghị với nhà nước, nếu không muốn giải tán hội nhà văn nhà nước, nên bỏ bao cấp, cho thành lập hội văn nghệ tư nhân, để cùng nhau phát triển. Tất cả các con mắt đục ngầu nhìn chõ về phía anh ta, đồng thanh, ông tưởng lập hội mà dễ đấy, còn quản lý nữa chứ, đây là ngành đặc biệt. Anh ta gân cổ giải thích, thì coi nó như các hội làm kinh tế khác, cũng có môn bài, hàng tháng cũng phải khai báo thuế, nghĩa vụ, trách nhiệm với xã hội. Anh nào làm sai luật, thì đi tù chơi vậy thôi… Cho là anh ta say rồi, nên mọi người không thèm chấp. Thấy mọi người im lặng, anh ta tưởng mình có lý, làm ra vẻ tiên tri (lại còn thế nữa) anh bảo đảm chắc chắn, nếu Việt Nam, nhận được giải Nobel về văn chương, người đó chắc chắn không phải là nhà văn, trong hội của nhà nước. Không chịu nổi, tôi bịt miệng, kéo anh ta ngồi xuống. Uống tiếp, thật là, chẳng ra làm sao cả!
Cách đây có lẽ cũng đến mấy năm, tôi đọc đâu đó, giáo sư Hà Minh Đức nịnh đầm nhà thơ Xuân Diệu, Anh (tức Xuân Diệu) làm việc bằng cả viện văn học. Vị giáo sư này bảo nói đùa, sau đó lại in thành sách, tôi nghĩ không còn là đùa nữa. Không rõ nhà thơ Xuân Diệu nhận được lời khen này, lúc đó ông đã nghĩ gì? Có người độc mồm, độc miệng bảo, khác gì sát ớt vào mặt các vị giáo sư, tiến sĩ của viện văn học, rõ là phí tiền đóng thuế của dân. Người sạch mồm sạch miệng hơn, lại nói, người Việt ta có tính xấu khó sửa, thích ai, nịnh ai thì tâng qua đầu, ghét ai đạp xuống cho đến chết. Chả lẽ cả cái viện hàn lâm này, thường đến thế thôi sao?. Còn nữa, tôi lại gặp trên báo mạng giáo sư Phan Ngọc khen Nguyễn Tuân viết về đề tài nào, cũng đều sâu sắc, trình độ, như luận văn tiến sĩ. Trình độ tiến sỹ mà ông Ngọc dễ dãi đưa ra như vậy, trách gì ở Việt nam ta có quá nhiều tiến sỹ giấy. Tôi nói thật, các nhà khoa học chân chính (tôi nói vậy bởi VN còn có một số nhà khoa bảng dởm theo tiêu chuẩn của ông Phan Ngọc) của chúng ta quá hiền lành, bị xúc phạm như vậy mà vẫn làm thinh. Có lẽ họ ngại va chạm chăng?. Làm gì có chuyện một người kém về sinh vật học như Nguyễn Tuân, sau cách mạng tháng tám, nhờ đảng và tự học, Nguyễn Tuân đạt đến trình độ tiến sỹ(viết) về lâm nghiệp, sinh vật học? Tôi nói cụ Nguyễn Tuân rất kém về sinh học, không phải nói bậy. Nguyễn Tuân chẳng để chú tiểu bẻ cành đào tươi cho vào gánh nước, mang về pha trà uống đó sao? Chẳng lẽ giáo sư Phan Ngọc cũng không biết nhựa đào có độc? Tài văn của cụ Nguyễn Tuân, không có thể ai phủ nhận. Nhưng không phải lúc nào ông viết cũng hay và cái gì cũng đúng. Văn chương cũng như cuộc sống cần có sự công bằng. Cứ khen kiểu ông Phan Ngọc, khác gì bôi bác Nguyễn Tuân. Nếu quả thật, Việt Nam trình độ giáo sư, tiến sỹ theo tiêu chuẩn của ông Phan ngọc này, thì ngành giáo dục của chúng ta, không sớm thì muộn cũng tan nát.
Mấy năm trước đây, tôi có nhờ trannhuong.com, tìm giúp bài thơ, Huyện Lắc của cố thi sĩ Xuân Diệu. Anh Trần Nhương có nhận lời giúp, nhưng không chắc vì bài thơ này không hoặc chưa in ấn. Qua bài viết này, mong rằng các nhà nghiên cứu về Xuân Diệu có thể tìm thấy. Bài này chúng tôi chỉ còn nhớ có câu đầu: Hồ Lắc bên huyện Lắc. Theo nhận xét của ông bạn Hoàng Thế Hoan (làm nghề dậy học ở Đà Lạt quê quán Nam Định) bài thơ này, Xuân Diệu viết như bài văn tả cảnh của học sinh lớp 4.
Khoảng năm 1979, sáng thứ hai nào, trong buổi chào cờ, học sinh chúng tôi cũng hát vang “ Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới, quân xâm lược bành trướng dã man, đã dầy xéo…”. Vào đúng thời điểm này, Xuân Diệu đến thăm và nghỉ mát tại Hồ Lắc, tỉnh Đak Lak. Ông có đến bình, đọc thơ ở hai nơi đó là trường sư phạm, và trường đại học Tây nguyên. Cả hai nơi, ông nói chuyện y trang như nhau, và đều đọc bài thơ này. Buổi thứ 2 ở ĐH Tây nguyên, chán quá, tôi và Hoàng Thế Hoan bỏ về nửa chừng. Thành thật mà nói, Xuân Diệu nói và bình thơ không hay. Buổi nói chuyện ở trường sư phạm, có hiệu trưởng Hồ Đình Phương và hình như có cả anh Nguyễn Lưu, lúc này anh đang dạy ở ĐH Tây Nguyên (Anh Nguyễn Lưu con cụ Nguyễn Xiển) đến nghe. Nhiều lần nhà thơ Xuân Diệu gọi hiệu trưởng mắng, có lúc đang nói nhà thơ cũng dừng lại mắng hiệu trưởng, chỉ vì ba cái lặt vặt, như sắp chỗ ngồi, hoặc treo đi treo lại chiếc bóng đèn. Tôi cũng không hiểu sao, thầy Phương ngồi yên, không phản ứng gì cả. Thầy là dân Nam bộ, tôi biết thầy rất nóng tính, và sòng phẳng. Tuy thầy đã lớn tuổi, nhưng thầy vẫn chơi ở vị trí chuyền hai, của đội bóng chuyền trường tôi. Cả đội chỉ có tôi và anh Hường là học sinh, nhưng lại là nòng cốt của đội bóng. Từ thích thể thao, nên thầy quí luôn chúng tôi. Chiều nào, chúng tôi cũng tập cùng thầy nên tôi rất rõ tính của thầy. Tôi biết hôm đó thầy nén nhịn nhiều lắm. Hình như buổi nói chuyện đó, có một cái gì đó bất bình thường, tôi nghĩ vậy. Bây giờ, tóc trên đầu đã bạc quá nửa, tôi mới nghiệm ra một điều, cứ không phải ông nào có học vị cao, là có văn hóa. Có rất nhiều người thất học, nhưng lại có văn hóa rất cao. Sau buổi nói chuyện, ông bạn Hoàng Thế Hoan ( Hoan lúc này, đang là sinh viên sư phạm Đà Lạt) rủ tôi sáng mai, lên xin nhà thơ Xuân Diệu bài thơ Huyện Lắc đọc lại. Hoan vừa thăm dò được nhà thơ đang nghỉ ở nhà khách tỉnh ủy. Tôi bảo, sao khi nãy không xin, mà đã nghe rồi, ông chê như bài văn tả cảnh, còn xin làm gì. Hoan bảo khi nãy đông quá, đọc lại xem có cảm xúc gì khác không? Tôi biết Hoan rất thích thơ Xuân Diệu, nể bạn từ Đà lạt sang, nên tôi nhận lời đi cùng. Biết tính Hoan bộp chộp, ăn nói ít ý tứ, nên trước khi đi tôi bảo, nếu nhà thơ tiếp, ông nên ăn nói cẩn thận. Đến cổng tỉnh ủy, tôi định không vào. Tôi sợ. Tôi sợ đứng trước một nhà thơ lớn, tôi sợ phải đi qua cái cổng có người lính gác. Xem xong thẻ sinh viên, người cảnh vệ chỉ nơi ở của nhà thơ. Chúng tôi đến gần, thấy nhà thơ Xuân Diệu đang đi về hướng chiếc xe mầu đen đỗ đầu hồi nhà. Cửa xe đã mở. Biết rằng ông sắp đi đâu đó, Hoan đi nhanh về phía ông, thấy thế tôi đứng lại. Không hiểu Hoan nói với ông những gì, tôi chỉ nghe thấy tiếng của nhà thơ hơi lớn, và gắt. Hoan quay lại, tôi hỏi sao? Hoan bảo,bị đuổi thôi. Tôi cũng không hỏi gì thêm. Nhưng tôi nghĩ chắc Hoan nói gì làm phật ý nhà thơ.
Trên đời này có ai được hoàn hảo đâu, nhất là trong văn chương. Vì thương nhau đôi khi bốc thơm nhau mà thôi. Các cụ nói, Thánh Nhân còn có khi sai cơ mà. Nhưng Thánh Nhân nào chúng ta gặp gặp bao giờ?
Frankfurt/M tháng 6-2008- Leipzig 4-11-2012
© Đỗ Trường
© Đàn Chim Việt
http://www.danchimviet.info/archives/68362/van-ch%C6%B0%C6%A1ng-va-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di/2012/11