Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Tia Nắng Hoàng Hôn - Việt Dương Nhân

 

Kim Chi và Ngọc Diệp là đôi bạn rất thân với nhau. Tính đến nay đã gần bốn chục năm qua. Hiện tại hai bà sắp vào tuổi lục tuần. Tuy cả hai không cùng mẹ cha, cũng không cùng quê quán. Mà số phận lại tương tựa như nhau. Thật là một sự trùng hợp hiếm có trên cõi đời !

Kim Chi sanh ra trong một gia đình điền-chủ khá giả, vùng Gia-Định ngoại ô Sàigòn. Còn Ngọc Diệp thì sanh trong một gia đình phú-hộ ở miệt Long-Xuyên thời còn Pháp thuộc.

Vào khoảng đầu thập niên một ngàn chín trăm năm mươi. Lúc đó Ngọc Diệp và Kim Chi mới lên sáu bảy tuổi mà đã chịu cảnh mồ côi. Hai bé sống với các anh chị trong nhà. Nhưng đau đớn thay ! Hai đứa nhỏ lại không được tình thương yêu trìu mến của anh chị cũng như giòng họ. Bao nhiêu cảnh vô phước cùng cực nhứt đời. Nó luôn luôn phủ lên đầu của hai đứa bé còn thơ dại. Cả hai từng ăn những chén cơm chan bằng máu và nước mắt. Quần áo thì chẳng được ấm áp mà lại còn bị mắng nhiếc, roi đòn bủa xuống và đày ải vô cùng cực nhọc.

Thân xác bé nhỏ mà phải gánh chịu bao nỗi nhọc nhằn. Mặc dù khổ cực như vậy. Hai đứa bé bắt buộc phải ở lại sống nương nhờ trong gia đình các anh chị. Vì tuổi còn thơ và còn nhỏ quá, biết phải đi đâu bây giờ ?

Ngày tháng năm trôi hơn mười năm sống lây lất và cam chịu nỗi nhọc nhằn. Nhưng rồi cả hai đều thoát ly lên Sàigòn sống kiếp bụi đời sương gió.

Ngọc Diệp và Kim Chi quen nhau, là sự ngẫu nhiên. Bởi hai cô mướn phòng gần nhau và chung một Building... trên đường Tự-Do quận nhứt Sàigòn. Từ dạo ấy họ kết tình bạn với nhau.

Suốt mười mấy năm sống kiếp phong trần gió bụi trên đất Sàigòn. Ngọc Diệp và Kim Chi nếm đủ mùi vị của đời. Đến lúc lớn khôn, làm ra tiền. Hai cô trở về thăm lại gia đình và cung phụng cho đám cháu, con của các anh chị hai cô.

Thời gian trôi chảy, Ngọc Diệp đi theo tiếng gọi ái tình. Nàng qua Pháp với người yêu. Nhưng chẳng may, không đầy một năm thì người tình của nàng bị cơn bạo bệnh mà qua đời. Ngọc Diệp phải sống bơ vơ giữa thủ đô Ba-Lê.

Cả năm sau miền Nam Việt Nam thất thủ vào tay Cộng-Sản Bắc Việt. Kim Chi ‘’đu’’ được một người đàn ông Việt dân Pháp giúp nàng thoát khỏi Sàigòn.

Thật là thương đau ! Định mệnh không chịu buông tha cho kiếp Hồng Nhan Bạc Phận ! Sóng gió lại nổi lên và đưa đẩy Kim Chi với vị ân nhân ấy phải chia tay.

Ngọc Diệp và Kim Chi tình cờ gặp lại nhau trong buổi văn nghệ do những người Việt Tỵ-Nạn tổ chức tại rạp Maubert quận 5 Paris. Hai cô gặp lại nhau lòng mừng vô hạn. Kim Chi rủ Ngọc Diệp về ở chung, và cùng đi xin việc làm ở mấy tiệm của người Việt. Nhưng chẳng được việc. Cuối cùng hai cô phải bước chân vào Rừng Đêm đầy chim muông, thú dữ của thù đô ánh sáng Ba-Lê để tranh thủ mà tìm sự sống.

Bấy giờ tuổi đời của hai nàng gần kề tứ tuần. May thay, vào một đêm trời xanh mây biếc, trăng sao lóng lánh sáng ngời, Ngọc Diệp gặp người đàn ông Thụy Sĩ hết dạ thương yêu và cưới nàng làm vợ. Hơn một năm sau, Kim Chi cũng được một chàng Quân tử yêu thương nàng hết mực. Tuy già nhân ngãi, non vợ chồng . Nhưng chàng lo lắng cho Kim Chi một cuộc sống tương đối đầy đủ.

*

Gần hai mươi năm, Kim Chi và Ngọc Diệp sống an phận với những sợi tơ tình muộn màng ấy. Bấy giờ hai bà đã chán ngán sự đời, bởi sống quá nhiều và cũng nếm biết bao điều đau khổ phũ phàng cũng như những vị ngọt bùi, cay đắng. Nên không còn ham muốn gì thêm nữa, ngoài cái việc : "ngày qua ngày, chờ qua đời mà thôi".

Nhưng... trời chiều, bóng xế... Trong lòng của hai bà ngập tràn nổi lên tình thương nhớ quê hương. Chắc chắn là đồng tâm trạng của hằng triệu đồng bào Việt Nam đã ly quốc từ bấy lâu nay.

Ôi, quê hương Việt Nam ! Việt Nam là nơi chôn nhau cắt rún là mảnh đất quê nghèo, là nơi chúng ta từng nếm bao mùi vị vui buồn trong những năm tháng của ngày xa xưa. Dù chúng ta sống trong hoàn cảnh nào đi nữa, thì không ai có thể quên hẳn được quê hương của mình...

*

Vào đầu thập niên 1990. Có hằng loạt người Việt trở về thăm quê hương và gia đình. Trong đó có Ngọc Diệp. Bà về Sài-gòn được mấy tuần, thì vội đi tìm mua một căn appartement nho nhỏ gần khu chợ Tân-Định, nhờ người bà con đứng tên dùm. Mua xong, Ngọc Diệp sửa sang trang hoàng lại căn nhà cho đầy đủ tiện nghi để khi nào bà về mà có chỗ ở. Còn những tháng bỏ trống thì cho ngoại kiều mướn ngắn hạn.

Lo căn nhà xong, Ngọc Diệp trở lại Thụy Sĩ. Bà luôn nghĩ đến Kim Chi.

Buổi sáng cuối mùa thu, thời tiết lành lạnh, bên ngoài mưa rơi lác đác, lá rụng đầy đường, thân cây trơ cành trọi lá. Trông thật là buồn hiu hắt !

Kim Chi đang nhìn trời qua cửa sổ, lòng nghĩ ngợi xa xăm. Chợt tiếng chuông điện thoại reo vang, bà đến nhấc lên :

- A-lô ! Xin lỗi, ai vậy ?

- Hì hì... Tao đây nè !

- Cái gì vậy... Mụ ?

- Ê, về Việt Nam ăn Tết với tao không... Mụ ?

Hai bà đều cười ngất trong điện thoại. Kim Chi nói :

- Tao muốn về thăm gia đình tao lắm... Nhưng...

- Nhưng-nhụy cái gì ? Mầy còn các anh chị và một đám cháu đông như là vạn cấy. Theo tao thấy, là mầy nên về một lần đó Kim Chi à ! Về nghe Mụ... !

- Ờ, để tao tính lại. Tao sẽ hỏi mượn nhà băng và xin chàng Quân Tử coi có chút gì không nha !

- Thế nào cũng được mà !

- Nè, có gì thì tao sẽ cho mầy hay sau.

- Để tao sẽ về trước, rồi mầy bay về sau nha !

- Ờ, nếu tao đi, thì đi cỡ vài tuần là tao phải trở lại đây.

- Sao mầy không ở một vài tháng ?

- Trời ơi ! Không được đâu Mụ ‘’Suisse’’ ơi !

- Nè, thôi ráng thu xếp đi nha. Bye bye nghe ...!

- O.K. Má nó ơi !

Sau khi Kim Chi nói chuyện điện thoại cùng Ngọc Diệp. Bà suy nghĩ suốt ngày. Qua hôm sau Kim Chi lo đi mượn nhà băng. Mượn được ba chục ngàn quan. Chàng ‘’Quân Tử’’ tặng thêm một chút và nàng gom góp tiền dành dụm cộng chung tất cả được cỡ năm chục ngàn quan Pháp. Nàng đi xin visa và mua vé máy bay xong xuôi cùng lo mua thuốc men đem hờ về rủi bị bệnh hoạn bất tử.

Ngọc Diệp đi trước Kim Chi vài tuần. Sau đó Kim Chi cũng lấy Air-France bay về.

Ngồi trong máy bay mà lòng của Kim Chi vô cùng hồi họp, xúc cảm lạ thường. Sau gần hai mươi năm mới được trở về quê hương yêu dấu.

Khi nghe cô chiêu đãi viên nói : "máy bay đang vào không phận Việt Nam và thời tiết bên ngoài nóng ba chục độ." Tim Kim Chi đập mạnh, và khắp cả thân người toát mồ hôi lạnh, nước mắt rưng rưng. Một xúc động chưa từng có trong lòng nàng. Kim Chi đứng dậy lấy bộ đồ mát trong xách tay nhỏ đi vào toilette thay. Rồi trở lại ngồi ghế gài dậy nịch đàng hoàng, nàng cố trấn an tinh thần.

Chiếc máy bay ‘’Boeing-747’’ đáp xuống phi-trường Tân-Sơn-Nhứt vào khoảng năm, sáu giờ chiều. Cửa mở, hành khách lần lượt đi xuống. Còn Kim Chi thì chần chờ đi sau chót. Nàng vừa đạp chân dưới đất, liền ngồi và khum xuống hôn trên mặt đất mà nước mắt bà tuôn rơi. Bà tự nhũ : - "Mình sự thật về tới nơi chôn nhau cắt rún rồi. Trời ơi ! Việt Nam quê hương tôi !"

Bà từ từ nối đuôi như mọi người, rồi đi lấy hành lý, điền giấy khai thuế, trình giấy thông hành... đi ra.

Kim Chi ngơ ngác tìm kiếm Ngọc Diệp. Đàng kia, Ngọc Diệp đưa tay quơ quơ và kêu lên :

- Kim Chi ! Tao đây nè !

Đi chung với Ngọc Diệp, có Gấm, cô bạn hàng xóm, và Cương, ông luật sư mà Kim Chi được quen biết trong lúc ông đi công tác tại Ba-Lê. Khi ông trở về Sài-gòn, sẵn dịp đó Kim Chi gián tiếp giới thiệu cho Ngọc Diệp, cho bà có người quen ở Sài-gòn, vì bà ít quen ai ở bên nhà. Họ tươi cười chào đón nhau.

Bốn người ra chiếc xe hơi hiệu Toyota màu trắng còn mới toanh của Cương. Cương lái xe trực chỉ chạy thẳng về nhà của Ngọc Diệp...

*

Qua ngày sau, Kim Chi nhờ cô Gấm đi đổi tiền quan Pháp qua tiền đồng VN. Nàng vội lấy xích-lô-đạp và ôm tiền về Gia-Định thăm các gia đình anh chị.

Kim Chi không mua gì cả, mà bà chỉ đem tiền về gọi là quà cáp. Phân phát cho một số người trong gia đình. Sau đó nàng được biết có cô cháu đang bị ở tù về tội lừa gạt tiền bạc của người ta. Kim Chi liền bắt tay lo liệu, đền tiền lại để cho cô cháu được ra khỏi tù.

Nhưng buồn thay ! Người chị dâu tham tiền. Chị ta muốn Kim Chi đưa tiền cho bà để bà trả góp từ từ mà phó mặc cho con mình ở tù. Nhưng Kim Chi không bằng lòng, bà cương quyết chuộc cô cháu ra.

Bao nhiêu năm Kim Chi xa cách gia đình. Ngày nay trở về lại vẫn bị bất đồng ý kiến trong gia đình.

Tiền bạc Kim Chi cho tặng các gia đình anh chị và lòng vòng những bà con và bỏ tiền chuộc cô cháu ra khỏi tù, mà còn bị người chị dâu thù ghét.

Thật buồn cho thân phận Kim Chi. Một đời người vô phước. Bà chẳng được một chút tình yêu thương trìu mến nào của gia đình quyến thuộc.

Sau một tuần Kim Chi cho tặng hết tiền bạc. Bà nằm ở nhà của Ngọc Diệp mà chờ đến ngày lấy máy bay trở lại Ba-Lê. Và trong lòng bà nói, nếu Cộng Sản còn cầm quyền thì bà cương quyết không trở về Sàigòn nữa. Bà chờ đến khi nào Việt Nam được thật sự Tự do - Dân chủ thì lúc ấy bà sẽ trở về ?

Còn gia đình anh chị và các cháu của Ngọc Diệp đều vượt biển thoát khỏi Việt Nam từ lâu. Vài người sinh sống trên đất Mỹ. Và vài người sống trên đất Pháp. Nên nàng không bận lòng mà cho tặng ai bên Việt Nam.

*

Sau chuyến về Sài-gòn thăm gia đình và quê hương, Kim Chi thấy chán nản sự đời hơn nữa. Vì cảm thấy gia đình đối với bà như người xa lạ. Nhưng tiền thì họ không chê. Mà còn định tìm cách gạt gẫm bà nữa. Thật ngao ngán tình đời !

Bà trở lại Ba-Lê và chỉ liên lạc thư từ với Ngọc Diệp. Hai bà thư cho nhau rất là thường.

Rồi lại cũng vào buổi sáng mùa thu có chút nắng vàng chói chang. Kim Chi nhận được thư của Ngọc Diệp và có gởi kèm theo một lá thư của người cháu trai con của người anh Cả từ bên Mỹ viết gởi qua. Kim Chi mở thư ra đọc :

"Los-Angeles, ngày... tháng... năm...

Cô Ngọc Diệp kính thương,

Đầu thư con kính thăm sức khỏe cô và dượng. Một lần nữa con rất cám ơn cô đã tỏ bày tâm sự của cô cho con nghe. Cô đã đặt hết lòng tin vào con. Con có nhận hai lá thư của cô và hai tấm ảnh của Trầm. Thư của cô thật dài và chứa đựng đầy sự đau khổ, bất công đối với một đứa trẻ mồ côi mới lớn. Con thật cảm xúc và đầy phẫn nộ trước hình ảnh của một đứa bé vừa lên sáu bảy tuổi bị đối xử quá tàn tệ.

Cô Ngọc Diệp ơi ! Con xin lỗi cô vì sự tò mò của con, mà làm cho cô trở về với quá khứ đầy đau khổ, làm cho vết thương của cô bấy lâu nay gần như đã lành. Nay nó bị loét ra trở lại.

Thật sự con không ngờ cuộc đời của cô là một chuỗi ngày đầy đau khổ ôm ấp một mình. Con cám ơn Chúa và Mẹ Maria đã nâng đỡ và che chở cô trong suốt thời gian qua. Thật là cô có tánh cương nghị, không khuất phục trước những cảnh khó khăn đau khổ, đã bao lần cô ngã xuống. Nhưng cô đã cố gắng một mình trỗi dậy và tiến lên từng bước đến ngày hôm nay. Đó cũng là nhờ sức chịu đựng dẻo dai của cô bấy lâu nay, nên giờ đây con mới hiểu được cô, biết được cuộc đời của cô, và ít nhiều về cô Ngọc Lan nữa.

Cô ơi !Trước những hình ảnh khổ đau của cô. Con cảm thấy cuộc đời trên trần gian nầy đầy bất công. Con có thể chấp nhận sự bất công của người lạ, của một xả hội đối với mình. Nhưng con chống đối sự bất công của gia đình, giữa tình anh chị em, thì đều đó con thật khó mà tha thứ được. Nhưng, tuy đời cô đã bị đối xử tàn tệ. Thật là cô có một trái tim bằng vàng, một trái tim bằng máu thịt. Cô biết đáp lại những sự đau khổ mà người ta đã làm cho mình, bằng cả một tình thương, bằng một sự tôn trọng quý kính.

Cô nói đúng lắm, vì luật Moĩsen không đúng. Là ai chặt tay mình, thì mình phải chặt tay người kia lại cho công bằng. Nhưng Chúa Jésus còn đi xa hơn trong tình yêu của Người đối với thế gian, Người nói : Nếu ai vả má bên phải mình, thì mình đưa má bên trái cho họ vả luôn. Đến nỗi Người đã bỏ mình trên thập giá chỉ vì sự kiêu ngạo của loài người.

Cô Ngọc Diệp của con ! Tình yêu của Chúa thật bao la, không có biên giới. Có lần Người đã nói một ngụ ngôn : Một người chăn một đàn cừu 100 con. Nhưng trong đó có một con cừu đen tự rả đàng đi một mình, người chăn cừu kia vì tình thương vô biên, và sợ loài thú dữ hiếp đáp con cừu đen, nên ông bỏ lại 99 con cừu ngoan kia mà đi tìm cho được con cừu đen đem về. Còn hơn nữa, ông đã vác con cừu đen trên vai mình mà lòng đầy vui sướng, vì đã tìm lại được con cừu đen.

Cô Ngọc Diệp ơi ! Tuy trong quá khứ của cô đã làm những gì mà gia đình và xã hội không chấp nhận. Nhưng tất cả những gì cô đã làm cũng chỉ vì là sự sống ‘’survivre’’ mà thôi. Trước tình yêu thương bao la của Chúa, với lòng biết hối cải ăn năn và sự tôn kính của cô đối với Thượng Đế, thì con chắc rằng cô được tha thứ, và các Thánh trên Thiên Đàng còn vui mừng khi thấy một người có tội lỗi hối cải hơn là 99 người kia ngoan không cần cải hối. Con không phải là người tinh trắng, con cũng không có quyền phán đoán ai cả. Mà con chỉ hy vọng ngày sau sẽ gặp cô trở lại, chắc chắn là không phải ở địa ngục, mà là ở một nơi không còn có sự đau khổ nữa. Đó là bên cạnh Thiên Chúa nhân từ và đầy lòng khoan dung.

Thật con không biết phải làm gì để giúp cô trong những lúc nầy, mà con chỉ biết bắt chước Thánh Thérès de Lisieux, nhưng con cố gắng cầu nguyện cho cô, cho cô Ngọc Lan và cho cả gia đình con, và cám ơn Thiên Chúa đã giữ gìn gia đình mình đến ngày hôm nay, tất cả đều bình an là điều tốt lắm rồi.

Cô Ngọc Diệp ơi ! Bây giờ con chỉ xin cô hãy để vết thương của cô từ từ khép lại. Con rất cám ơn cô đã cho con thấy một người tội lỗi, nhưng đầy lòng bác ái thương người. Một người đã từng vấp ngã, nhưng tự mình trỗi dậy. Một người đã bị mất trước cái nhìn của người đời, giờ vẫn là người đầy tình thương đối với tất cả tình anh chị em, với tất cả người gặp cảnh khó khăn.

Cô Ngọc Diệp của con ! Cho dù cô đã làm gì trong quá khứ, nhưng đối với con cô vẫn là cô của con, con vẫn kính cô như cô Ngọc Lan, như ba mẹ con. Con không hổ thẹn vì đã mang một dòng máu giống như cô. Mà ngược lại con rất vui vì được biết trong gia đình mình tất cả không phải là người dễ khuất phục.

Thơ khá dài, xin phép cô cho con dừng bút. Con hẹn cô thơ sau. và con không quên kính chúc cô và dượng được nhiều sức khỏe và vạn sự lành.

Cháu của cô

Lê Văn Vĩnh."

Kim Chi đọc bức thơ, mà bà cảm động đến rơi nước mắt. Bởi thương đời bạn và cũng thương cho thân phận mình. Nhưng Kim Chi không được cái diễm phúc là có người trong gia đình viết những lời lẽ an ủi và thông cảm như thế.

Vừa đọc xong bức thư Vĩnh, cậu cháu của Ngọc Diệp, Kim Chi thấy mình như được nhận chung một tia nắng hoàng hôn đang sưởi ấm cõi lòng cô quạnh lạnh lùng trong lúc nầy. Bà lấy những lời an ủi ấy mà đặt vào cho mình.

Được biết Vĩnh là người có ăn học, khoa bảng khá cao, và có một địa vị rất quan trọng trong xã hội nầy. Khá khen thay, cậu Vĩnh đủ can đảm hạ thấp mình và chấp nhận có một người cô như thế. Bởi vì có biết bao người từng ở một địa vị thật thấp. Nhưng nhờ dịp may, hay chiếm đoạt của cải ai đó, rồi họ được phất lên. Sau đó họ không đủ can đảm hạ trở xuống được, bởi sợ bạn bè cũ biết được dĩ vãng thấp hèn của họ. Vì thế mà họ cứ nhìn lên trên chứ không dám ngó lại xuống đất. Người xưa đã có câu : - "Giàu đổi bạn, sang đổi vợ". Còn bây giờ thì : "Giàu đổi bạn, sang đổi đủ thứ..."

Thế gian ta được làm người là may mắn lắm rồi. Còn giữa dòng đời thường gặp bao cảnh nổi chìm về địa vị cũng như vật chất. Nhưng ta ráng giữ vững một tấm lòng bao dung - đại lượng và bình đẳng với tất cả mọi người, để đến ngày nhắm mắt xuôi tay cho nhẹ nhàng linh hồn.

Suốt mấy ngày Kim Chi đọc đi đọc lại nhiều lần lá thơ của cậu Vĩnh. Mà lòng vẫn nghe ngậm ngùi, vui buồn lẫn lộn.. Rồi bà viết thơ cho Ngọc Diệp :

"Ba-Lê, ngày ... tháng... năm ...

Ngọc Diệp bạn già thương mến,

Tao nhận liên tiếp ba bốn lá thơ của mầy. Trong đó có một lá kèm theo thơ của cháu Vĩnh. Ý cha ! Mầy thật là có phước được cậu cháu có một tấm lòng bao dung đại lượng hết sức.

Tao đọc thơ ấy mà lòng cảm động đến rơi nước mắt mấy lần đó. Đọc thơ cháu mầy viết cho mầy mà tao cứ tưởng như cháu của tao viết cho tao vậy. Cho tao vui ‘’ké’’ với mầy nha bạn già ?

Nghe mầy muốn rủ tao trở về Việt Nam nữa. Sự thật lòng tao cũng xôn xao lắm. Nhưng Ngọc Điệp ơi ! Tao không đủ sức trở về. Vì từ tinh thần đến vật chất tao không có vững chút nào. Thôi thì cứ chờ một dịp nào khác, hoặc là kiếp sau cũng được.

Ngọc Diệp ơi ! Tao muốn nói với mầy nhiều lắm. Nhưng bất chợt bị nghẹt lại, bởi lá thơ của cháu Vĩnh lời lẽ còn chập chờn trong tâm hồn tao, mà tao không thể diễn tả bằng ngôn ngữ được. Mà nghe lòng âm ấm như một tia nắng rực lên của chiều hoàng hôn sắp lặn tắt vậy.

Những giây phút cuối đời mà được những lời lẽ của người thân chia sẻ và thông cảm như thế, thì được một an ủi lớn lao lắm cho cuộc đời quá khứ của chúng ta. Hãy xem như là tia nắng hoàng hôn chiếu vào phút cuối đời của ta nha bạn !

Thôi, tao tạm dừng bút nơi đây. Mặc dù lời tuy ít, nhưng nhiều ý... gởi đến mầy. Chúc mầy và Anh... được nhiều sức khỏe và thân tâm an lành.

Bạn già

Kim Chi"


*

Dù cho lá ngọc - cành vàng,
Kim Chi - Ngọc Diệp hoặc hàng chúa vua.
Nước trôi, lửa cháy đành thua,
Chỉ nhờ lượng cả trời đưa qua dùm.

Dẫu rằng mạc vận đường cùng,
Gặp cảnh nghèo khó cũng đừng trách ai.
Vững lòng ăn ở thẳng ngay,
Ông trời bù đắp có ngày vinh sang.

Thế gian sướng một, khổ ngàn,
Trước vui chốc lát, sau tràn buồn đau.
Chuyện đời thật quá ngán ngao,
Chỉ còn Tu sửa, chuốt trau Tâm lành.

(Bên bờ sông Seine, thu-đông giao mùa 12/2000)

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Nền đạo lý Việt Nam dưới thời cộng sản - Tác giả: Nguyên Thạch



Nền đạo lý Việt Nam dưới thời cộng sản

Bất luận,bạn là ai: Giàu nghèo sang hèn hay già trẻ gái trai và thuộc tầng lớp nào trong xã hội:Trí thức,Bác sĩ,Kỹ sư,Tiến sĩ,Nông dân,Công nhân,Sinh viên học sinh,Cán bộ,Quốc nội,Hải ngoại...Là người Việt Nam,chúng ta thảy không khỏi không bâng khuâng về hiện tình của Đất Nước.Cho dẫu tầm nhìn được xét qua lăng kính dưới bất cứ góc độ nào thì vấn đề Việt Nam và riêng khía cạnh đạo lý vẫn là một tiêu đề nhức nhối hiện nay.

Thực thể của một xã hội là kết quả và trách nhiệm của tất cả các thành viên thuộc xã hội ấy.Trong đó,chính quyền là một tập thể nhỏ có tác động chi phối vận hành cũng như gánh vác trách nhiệm thiết thực nhất.Còn lại đại đa số dân chúng ,hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện bổn phận của mình như là bổn phận của mỗi một công dân.Sự biểu hiện này,sẽ còn tùy thuộc vào niềm tin và sự nhiệt tình.Chính quyền và người dân là hai thực thể hỗ tương lẫn nhau để tạo nên hình ảnh của một xã hội.Xã hội tốt đẹp lành mạnh hay yếu kém suy đồi tụt hậu là do mối liên quan giữa sự hỗ tương đó.

Chính quyền

Một nhà nước thật sự và đầy tính chính nghĩa,phải là một nhà nước do dân,vì dân và phải được dựng nên bởi dân.Đảng phái chính trị chỉ là những nền tảng lý luận ,tôn chỉ và luận cương nhằm phục vụ cũng như lấy đó làm kim chỉ nam cho nhà cầm quyền thực thi chính sách.

Ở Việt Nam,Trung Cộng cùng một số ít quốc gia cộng sản và độc tài khác,hệ thống cầm quyền hoàn toàn không thuộc về dân và do dân bầu cử,đó là những cơ chế độc tài toàn trị,đi ngược lại với trào lưu văn minh của nhân loại khi bước vào thế kỷ 21.

Loài người là một trong những sản phẩm của Thượng đế tạo ra,càng phát triển tiến bộ thì con người càng chú tâm về nhân quyền và nhân phẩm.Dân chúng Việt Nam là một trong những lớp người đáng tội tình nhất trong cộng đồng thế giới hôm nay bởi lý do họ đã bị nhồi nhét ép bức trong tăm tối mụ mị cùng bạo lực.

Một sự thật mà ai ai cũng biết rằng ở Việt Nam không có bầu cử và ứng cử tự do.Giữa thời đại ngày nay,nghịch lý này đã được tồn tại do toàn trị cực đoan dưới nhà tù và nòng súng.Sự thật và nghịch lý ấy còn tồn đọng ngắn hay dài đều tùy thuộc vào ý niệm và hành động để đưa đến sự quyết định từ người dân.Thế kỷ này là thế kỷ của truyền thông,chúng ta phải nắm lấy cơ hội của kỹ nghệ tin học hiện đại biến thành những đoàn quân hùng mạnh trong trận chiến tri thức.Phải bằng mọi cách đưa thông tin đến người dân,tạo cho họ có được nếp suy nghĩ đúng đắn hơn,bớt sợ hãi yếm thế hơn bởi lý do đơn giản là họ phải biết rằng họ hoàn toàn sở hữu cái quyền được sống,được làm người,như con người thật thụ .

Ngược dòng lịch sử để quán triệt nguyên nhân của những sự nghịch lý.

Là một công dân Việt,không ai mà không biết cái gọi là cuộc đấu tố cải cách ruộng đất , được chuẩn bị từ năm 1953 đến gần hết 1956.Một cuộc đấu tố được coi là " long trời lở đất ",quả bom khổng lồ có sự bộc phá vỡ tan nền đạo lý luân thường khủng khiếp và toàn diện nhất.Con tố cha ,vợ tố chồng,hàng xóm nghi kỵ tố giác lẫn nhau,nó đã tạo ra những sự nghi ngờ thù hận lẫn nhau tàn bạo nhất trong lịch sử xã hội Việt Nam.

Sai lầm ấy cùng những sai lầm kế tiếp mà hệ quả của nó gây nên bao điêu tàn chết chóc thù hận gian dối đê hèn kéo dài mãi đến tận ngày hôm nay.Người dân quốc nội lẫn người Việt tha hương,thảy đều ngao ngán cho một một xã hội hiện hành ,nơi có bao oái ăm nhiễu nhương hận thù và bạo ngược.Tầm nhìn với tất cả mọi góc độ vào một xã hội mà không thể mảy may tìm thấy bất cứ một sự tích cực hay niềm tin nhỏ nhoi nào.Một hệ thống cầm quyền hoàn toàn vô vọng,một xã hội hoàn toàn đen tối khi bóng ma ngoại bang đã lù lù trùm phủ quê hương.

Cuộc chiến huynh đệ tương tàn cho quốc tế cộng sản.Miền Bắc đã gieo bao thảm trạng tai ương cho miền Nam.Đám chư hầu là những hung thủ đã giết chết nền dân chủ và nhân bản hãy còn non nớt của Việt Nam Cộng Hòa.Một lỗi lầm sẽ mãi còn bị dày xéo trong tâm khảm của cả hai miền.

Thực trạng hoang mang,niềm tin cạn kiệt thì càng khơi dậy niềm nuối tiếc quá khứ cùng những tham vọng ngô nghê nông nỗi đau thương.Thử đặt một câu hỏi mà chính nó đã có sự trả lời.Giá mà ngày xưa,năm 1975,hai miền không thống nhất thì làm sao chúng ta phải đối diện với thảm trạng như ngày hôm nay!.Một xã hội được xem là tận cùng bằng con số không to tướng.Những ảo danh đi làm cách mạng để rồi kết cục là sự tang thương trong nước mắt,tròng nô lệ,không thành công mà cũng chẳng thành nhân và kết cuộc là đảng cộng sản phải mang tiếng ô danh muôn đời.

Người dân

Như đã nói trên,sự thành đạt của một quốc gia gồm hai yếu tố cơ bản.Chính quyền mẫn cán,tinh tế,chính nghĩa và dân chúng có trọn niềm tin,sẵn sàng hy sinh cũng như luôn năng động trong mọi sinh hoạt.Với môi trường và khung cảnh trong bàn tay sắc máu bạo lực,sẵn sàng đàn áp hoang phí tất cả vì quyền lợi riêng tư cho cá nhân cùng băng đảng ,người dân là những nô lệ đáng thương.Doanh nghiệp luôn bị chèn ép nhũng nhiễu,công nhân luôn bị áp bức bóc lột tận xương tủy,nông dân lê kiếp nhọc nhằn để còn được sống một giá trị sống thấp kém nhất.Sinh viên học sinh phải chịu khốn đốn trong nghèo khó,tiêu hao chất xám từ nền giáo dục cưỡng bức nhồi sọ,khi ra trường thì lại bị phe phái già nua tham quyền cố vị hãm tài.Bệnh tật,cướp bóc,đĩ điếm tràn lan.Thực phẩm tẩm chất độc từ kẻ thù bá quyền phương Bắc với mưu đồ giết hại dần mòn dân tộc này một cách tinh vi thâm hiểm.

Một xã tốt đẹp và phát triển là một xã hội ắt có và đủ hai thực thể hổ tương lẫn nhau.Trong khi thực tế ở Việt Nam thì sự hổ tương ấy dường như là đối nghịch.Sở dĩ người dân còn đáp ứng với nhà nước là bởi sự sợ hãi,muốn yên thân trong trạng thái nín thở qua sông.Sự hợp tác trong tinh tinh thần tự nguyện bởi bổn phận của một người công dân là hoàn toàn miễn cưỡng.Kéo dài một xã hội như vậy là mê muội và hoang phí.Từ đó,do nhu cầu của sự phát triển,bảo đảm dân sinh,an toàn cho nền độc lập của Tổ Quốc...Ắt phải thay thế một cơ chế chính quyền mà đa đảng đa nguyên là chuẩn đề định hướng cho một con đường tương lai.Một con đường mà ai cũng có quyền ngẩn mặt ,có sự cạnh tranh chỉnh đốn,không độc đảng toàn trị,Một thể chế có đầy nhân bản vị tha niền tin và đạo lý.

Qua bức tranh lõa lồ của thực thể Việt Nam,bắt buộc chúng ta phải tự can đảm để vươn vai thoát khỏi bế tắc nếu Việt tộc còn muốn dân và đất Việt vẫn còn trên bản đồ thế giới.Chúng ta phải lấy những hình ảnh nào để noi theo?.

Một cách cụ thể,gần đây nhất qua vụ thiên tai siêu Động đất và sóng thần Tōhoku 2011,chúng ta và kể cả thế giới đã học hỏi được gì ở người Nhật ?.Trong những điều kiện khủng khiếp kinh hãi nhất,họ vẫn bình tâm và lấy chữ trọng làm đầu ,chia sẻ nhường nhịn,không chen lấn giựt dọc ấu đã để giành lấy sự sống .Một dân tộc đầy ý thức,kỷ luật và lòng tự trọng,họ thà đói chết chớ quyết không đánh mất chữ trọng ấy.

Xa hơn nữa,hãy nhìn vào lịch sử,lòng ái quốc và niềm tự hào của người Do Thái để trân quí những thành quả mà tiền nhân tổ tiên của chúng ta đã dầy công với xương thành núi,máu thành sông,với bao linh hồn tử sĩ mới tạo dựng được cho Việt tộc đến ngày hôm nay.Dòng lịch sử 4.000 năm trải bao nhọc nhằn cơ cực lẫn ý chí mới giữ được Nước để truyền lại cho thế hệ chúng ta, thế thì không vì bất cứ lý do gì khiến chúng ta phải cúi nhục vô cảm thờ ơ trước thái độ ích kỷ nhu nhược vì quyền lợi riêng tư cho cá nhân và băng nhóm để qui hàng,nguyện làm Thái thú thần phục ngoại bang Bắc triều.

Đảng cộng sản VN vô trách nhiệm trước tiền đồ Tổ Quốc,vô thần,vô đạo nghĩa và hệ trọng hơn là đầu độc,lừa mị kéo theo cả một tập thể dân tộc theo con đường tội lỗi tày trời này.

Ngạn ngữ Việt Nam có nói:" Bần cùng sinh đạo tặc ".Trong hoàn cảnh ngặt nghèo khó khăn nhất định,con người ta có thể quẫn trí mà làm liều,điều này,ở mức độ nào đó,có thể cảm thông được.Nhưng rất đáng trách và hơn nữa là thật đáng khinh bỉ khi một người hoặc một nhóm người đã có dư thừa uy quyền tiền bạcnăn uống chi tiêu cờ bạc phung phí, nhà lầu biệt thự xe sang vợ bảnh con du học...mà vẫn còn muốn gom cả giang sơn về mình thì chẳng những đáng khi miệt mà còn là một trọng tội.

Nếu quả như đảng cộng sản đã thực thi cho những gì mà họ đã dầy công quảng bá cho nền độc lập,sự ấm no,niềm hạnh phúc,xã hội công bằng phát triển và văn minh thật sự thì không ai điên khùng hẹp hòi gì mà phê phán hoặc chống đối.Sự thật thì hoàn toàn ngược lại.Người cộng sản đã lì lơm trơ trẽn một cách kiên trì để rêu rao lừa mị dân chúng với những chiếc bánh vẽ chứa đầy chất độc.Họ không vì Đất Nước,không vì Tổ Quốc Nhân Dân chi cả mà thực tế,dinh thự đồ sộ của đảng ủy,của nhà nước,biệt thự xe hơi nhà lầu khách sạn công ty đất đai tài sản tiền vàng châu báu,gởi nước trong nước ngoài đầy ắp .Ở Việt Nam,thằng quan nào,con đảng nào mà chẳng giàu sụ ,gởi cả con cháu,mua nhà cửa ở ngoại quốc.Thế !.Không là ích kỷ,không là tham lam,không là vô lương bất chánh,vô đạo đức thì là gì ?.

Một phường cầm quyền mà từ trung ương đến địa phương,từ Tổng bí thơ Thủ tướng đến lãnh đạo các quận huyện,thậm chí thị trấn xã,các ngành các cấp,có ai dám chứng minh cho mọi người biết là các cấp kể trên không tham nhũng ?.Đó là sự thật,một thật trần truồng mà không ai có thể biện minh bằng bất cứ thứ từ ngữ nào.

Một chính phủ không có đạo đức,không còn lòng tự trọng cho bản thân gia tộc và quốc thể là một chính phủ xấu xa thấp kém đáng phải vứt đi.Dứt khoát.

Sự hệ lụy nhục nhã từ những người cầm nắm vận mệnh Đất Nước đưa đến hình ảnh man rợ tiêu cực trong xã hội mà báo đài cũng như nhiều người từng mục kích. Còn hình ảnh nào dã man hơn khi một cô gái xinh xắn lành lặn bị đám côn đồ giựt dọc ,đạp té xe , vỡ cả khuôn mặt,gãy cả cánh tay chỉ vì sợi dây chuyền vàng 5 phân!.Cô gái nằm sóng sượt trên vũng máu,cái ví sổ ra vài trăm ngàn tung tóe,người đi đường bàng quan vô cảm nhưng không thể nén nỗi lòng tiếc,tranh nhau nhặt từng đồng tiền của nạn nhân để làm của riêng. Nếu ai đó còn chút đọng lòng trách móc sao không đuổi cướp thì sự trả lời là sợ bị bọn băng đảng trả thù.



Ảnh minh họa

Đất nước nào cũng vậy,thanh niên là rường cột của quốc gia.Ở Việt Nam phần đông những rường cột này khi được hỏi ý kiến " Nhà nước tham ô,giặc ngọai bang đang lăm le xâm chiếm quê hương,bạn nghĩ gì ?. " : " Tôi không biết,tôi chỉ lo kiếm tiền.Việc đó,để người khác lo..." !.

Xã hội Việt Nam ngày hôm nay,hỏi mấy ai có được sự bình yên thật sự?.Có ai là không từng bị lừa đảo giựt dọc,kể cả " Việt kiều " ?.Một xã hội mà sự ngao ngán đã lên đến tột độ cùng cực và toàn diện.

Dưới chế độ cộng sản, sợ hãi đã trở thành một tập tục!. Sự sợ hãi ấy đã vượt xa tình cảm,đạo lý và lòng nhân ái tối thiểu của một con người.Liệu rằng,chúng ta có nên sợ hãi quá xa mức cần thiết ấy không ?.

Khi một xã hội không coi trọng đạo lý,mà trong đó nhà cầm quyền là một tập thể chủ chốt cốt cán không còn đạo đức thì viễn ảnh của quần thể ấy sẽ đi về đâu ?.Bên bờ vực của hố thẳm vong nô,mọi cá nhân phải tự vượt qua u ám mê muội,hãy sớm thức tỉnh trước khi quá muộn,không thể chần chờ chi thêm nữa.

Nguyên Thạch
Tháng Tám-2011

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Relax: Video ra mắt tt "Bốn Phương Chìm Nổi"

Relax: Video ra mắt tt "Bốn Phương Chìm Nổi"


Kính mời xem video ra mắt tt :

Việt Dương Nhân
Paris 25-10-1998
Bốn Phương Chìm Nổi  
Kính dâng Thầy Thích Minh T.

Con biết thân con phận lạc loài
Cam đành chấp nhận số mà thôi
Bốn Phương Chìm Nổi như mây khói
Mặc tình giông gió cuốn đùa trôi.

Bốn Phương Chìm Nổi con nào dám,
Trách Trời hay tạo Hóa bất công.
Đời con như thuyền trong cơn sóng
Vùi dập tơi bời giữa biển Đông.

Bốn Phương Chìm Nổi lắm long đong
Nay còn chút tâm tình ước mong:
Sao cho tất cả đều được phước
Trải một kiếp người
TÂM trắng trong.


(Paris 13ème , đêm đông 05-01-1994)

***
Chờ thêm chút nữa sẽ "bay" về nơi chôn nhau cắt rún !!!

 

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

"Việt Dương Nhân và Cát Bụi" - Nguyễn Hữu Nhật - Sương Anh diễn đọc


" Vườn hoa, nụ hồng, hương thơm và tiếng hát...
là những gì tượng trưng cho hạnh phúc con người

Việt Dương Nhân,
qua tập thơ Cát Bụi,
muốn gửi tặng cho đời.
Xin tặng cho đời...một vườn bông
Xin tặng cho đời...những nụ hồng
Xin tặng cho đời...hương thơm ngát
Xin tặng đời...lời hát êm trong... (VDN) "

Nguyễn Hữu Nhật



Âm Bản - Nguyễn Hữu Nhật
Việt Dương Nhân và Cát Bụi

Sau tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi, Việt Dương Nhân trong những nhà thơ ở Paris, với sức sáng tác sung mãn, lại gửi đến quý bạn thơ thi phẩm, Cát Bụi, đã nói lên được nhân sinh quan của Việt Dương Nhân về thân phận con người trong cuộc đời tạm bợ nầy, Cát Bụi gửi đến lời chúc tốt :


Mong cầu đây đó vui cười.
Đừng cho Cát Bụi...ngậm ngùi ngày mai.

Việt Dương Nhân coi thơ như vầng trăng, như ánh mặt trời và thơ còn là chiếc thuyền đưa những tâm hồn đau khổ, từ bờ bên nầy, sang qua bờ bên kia hạnh phúc. Thơ đã giải thoát cho chính tác giả khỏi những băn khoăn, phiền muộn một đời ray rức :
Không thắc mắc, bồi hồi gì nữa.
Mà thấy nhẹ nhàng thanh thản...thôi.

Trong nỗi vui mừng tìm ra ý nghĩa tốt lành của đời sống riêng mình, Việt Dương Nhân hân hoan chia xẻ cùng mọi người :
Xin tặng cho đời...một vườn bông
Xin tặng cho đời...những nụ hồng
Xin tặng cho đời...hương thơm ngát
Xin tặng đời...lời hát êm trong...

Vườn hoa, nụ hồng, hương thơm và tiếng hát là những gì tượng trưng cho hạnh phúc con người mà Việt Dương Nhân, qua tập thơ Cát Bụi, muốn gửi tặng cho đời. Còn chính tác giả :
Cố quên bao chuyện âu sâu
Thả hồn theo gió hòa vào hư không.

Nổi âu sầu không chỉ một đời riêng tác giả mà nó giàn rộng ra, cùng khắp quê hương, nơi mà Việt Dương Nhân vẫn gắn bó :
Ai về quê Mẹ xin cho gởi,
Một khối tình thương rải khắp nơi.

Khát vọng thanh bình cho một quê hương từng binh lửa lâu dài, nồi da sáo thịt, củi đậu lại nấu đậu chỉ vì thứ học thuyết mang từ bên ngoài vào mà anh em trong nhà tương tàn. Tựa hồ như đồng ruộng quê nhà chỉ hợp với tiếng hò, lời ca vọng cổ, tâm hồn nông dân đất Việt chưa thấm được cái cuồng động của nhạc Rock Tây phương, Tâm hồn Việt Nam là ‘’bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn’’. Thứ học thuyết, giai cấp đấu tranh, gây oán chuốc thù chỉ càng làm cho đất nước suy yếu. Việt Dương Nhân lo lắng :

Một đời tâm trí chẳng an,
Khối sầu mãi đọng ngập tràn trong tim.

Nhà thơ sinh ra từ những mùa hoa đậu bắp ở Bình Chánh, Gia Định, những ngõ tre mát rượi ngày hè, những đêm trăng sáng ngó các ngọn dừa như đuôi chim công xòe ra trên nền trời đất bạc.
Việt Dương Nhân ra đời sớm, thân lập thân, sức mạnh duy nhất nơi tuổi thơ là tình cảm của một con người không chịu sống lệ thuộc vào người khác, Ba mất sớm. Mẹ có một đời riêng cũng không vui. Người chị dâu khe khắt. Với một tuổi thơ không có tuổi thơ, Việt Dương Nhân rời nhà, xa ruộng đồng và lên tỉnh, Bây giờ nhớ lại lòng còn buồn bã :

Tay nâng ly rượu, rượu cũng hững hờ !
Hớp vô một ngụm, cay bờ môi thâm...

Sài Gòn, trong thơ Việt Dương Nhân, như lãng quên, như nhung nhớ, vì ‘’ Sài Gòn là nơi chôn nhao, cắt rún’’. Còn Paris, ‘’còn Paris, con khôn lớn trên đời’’. Gia Định, Sài Gòn và Paris, ba địa danh lớn lao trong đời nhà thơ. Từ một em bé gái mười hai tuổi rời nhà cho tới nay một thiếu phụ trên năm mươi vẫn xa nhà. Nhưng nhờ thấm thấu tinh thần nhà Phật, Việt Dương Nhân hiểu rằng ''trong ba ngàn thế giới lớn, nơi đâu chẳng là nhà'', nhưng ngôi nhà thời thơ ấu và tình thương Mẹ vẫn thường dậy lên trong lòng tác giả bao mối cảm hoài :

Dĩ vãng buồn !
Gởi lại đất Sài Gòn !
Dĩ vãng sầu !
Cất dấu ở Paris !
Một đời hai dĩ vãng,
Sẽ chôn nơi chốn nào ?

Rún phải cắt, nhau có thể chôn, nhưng dĩ vãng dù buồn hay vui, người ta khó có thể chôn được nó, bởi vì nó là một phần của đời sống, hay chính nó kết lại thành đời sống. Việt Dương Nhân từng chôn chặt dĩ vãng ở trong lòng. Nó bật dậy, sống lại mạnh mẽ trong thơ, không ai chôn được dĩ vãng. Người ta biến nó thành một sức mạnh tâm hồn, đẹp như tình mẫu tử :

Căn phòng xưa cũ vẫn còn
Con về cho mẹ đở mòn xác tâm.

Người chối từ dĩ vãng cũng như một dân tộc chối từ lịch sử của mình ? Việt Dương Nhân đi nhiều nơi trên thế giới và dù muốn hay không, tác giả của tập thơ Cát Bụi cũng là dân sống ở Paris lâu năm, những xa hoa cũng từng trải, nhà thơ vẫn tâm sự chân tình về một dĩ vãng nhiều thua thiệt, đau buồn của mình. Không một lời trách cứ. Bởi Việt Dương Nhân coi mỗi đời người như một cánh lá. Từ khi xuân xanh tới lúc thu vàng :

Nhìn qua song cửa buổi chiều nay
Thấy bao chiếc lá hững hờ bay
Trên cành rơi xuống, dường kinh hãi
Như sợ chân người dẫm nát...thay !

Khoảnh khắc thấy được cái ngắn ngủi của đời sống, nhà thơ hiểu ra lẽ đạo, mọi vui buồn trong đời không lớn lao như người ta tưởng, và dù cho có lớn lao đến đâu, những vui buồn ấy cũng nằm trong cái mỏng manh, qua đi rất nhanh :

Nhìn bầu trời xanh xanh.
Tiếng chim hót trên cành.
Mùa xuân đi qua nhanh.
Kiếp người sao mỏng manh!

Chỉ có thơ, thơ chôn đi được nỗi buồn và làm sống lại niềm vui, ngay trong lúc sáng tác, Việt Dương Nhân trở thành một người cầm bút không phải vì muốn đua chen chữ nghĩa với đời, mà vì chính trong lòng có bao nhiêu điều nếu không viết ra thì khổ lắm. Trước hết là nuối tiếc một thời đã qua :

Đêm khuya im vắng buồn tanh,
Mượn cây bút nhỏ dệt thành bài thơ.
Thẩn thờ hồn mộng, tâm mơ,
Phải chi trở lại tuổi thơ thuở nào...

Một tuổi thơ không quần áo đẹp, không đồ chơi, không đủ ăn và hơn thế nữa, không được vỗ về, an ủi. Tự kiếm sống bằng hai bàn tay trắng. Nụ hoa vươn lên. Rồi nở. Nở không vì mình mong muốn. Mối tình đầu đời lỡ dở với dư vị đắng cay :

Tội thân hoa
Không dám nói một lời
Phải chấp nhận
Vì đời cần sự sống.

Ước mơ của người con gái, thuở Việt Dương Nhân mái tóc chớm xanh, trong thanh bạch không mong giàu có, trong thất thế không trông địa vị, chỉ một lòng thao thức được trở thành :

Chẳng phải vì một chút lợi danh.
Nó mơ từ độ tóc còn xanh.
Mơ thành thi sĩ, hay văn sĩ,
Mà sự học hành quá mỏng manh !

Bỏ học, đi làm, rồi vừa đi làm vừa đi học, trong hoàn cảnh nào cũng khó khăn. Cái khó khăn trước hết của một người có nhan sắc bị lưới đời vây bủa, cùng với trách nhiệm tự ràng buộc gánh vác, chia xẻ cùng những người thân yêu cơ cực, tất cả như một hàng rào ngáng đường tiến thân cho một thiếu nữ con nhà nghèo. Chúng ta trân trọng một tấm lòng thành thật :

Đời Kiều không nghĩa lý gì !
Còn em biết gọi là chi giữa đời ?
Kiều, mười lăm năm chơi vơi.
Em, bốn mươi sáu năm đời khá lâu.

Người nào không yêu quý mẹ mình thật là một bất hạnh lớn lao. Do tình cảnh ngoài ý muốn, những năm nhà thơ bé bỏng, bà mẹ không được ở gần để che chở, chăm sóc khiến nhà thơ phải sống nay đây, mai đó vất vả vô cùng. Vậy mà Việt Dương Nhân vẫn một lòng yêu quý mẹ, biết ơn sinh thành của mẹ. Năm tháng làm mòn mỏi thể xác nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn phơi phới, nồng ấm tình người muôn thuở :

Thân con như đã rã rời,
Mà lòng vẫn giữa như thời xuân xanh.

Thời của xuân xanh, thời của tình yêu mới lớn, thời của giọt sương cũng ra châu ngọc, thời của cánh cò trắng vút bay trên hàng dừa nước, những cánh đồng lúa vàng Bình Chánh từ ngã ba Phước Cơ về Hưng Long, những địa danh nổi tiếng thời chiến như Bà tà, Tân Nhựt, tân Kiên... Nơi mà :

Bao nhiêu chất chứa tình thương,
Thương về quê Mẹ vấn vương vạn sầu...

Phần đông người ta muốn thời gian đi chậm, đồng nghĩ với sự kéo dài đời sống, tại sao Việt Dương Nhân lại mong ước :

Ta muốn gào lên cho vỡ đất trời
Cho tan nát hết cõi đời nầy đây
Thời gian hỡi ! sao cứ hững hờ bay
Hãy nhanh đi chớ, cho đời qua mau.

Câu trả lời thật giản dị, thời gian không phải là ‘’đơn vị sống’’ ở kiếp nầy, bởi tình yêu theo Việt Dương Nhân, không tính bằng năm, bằng tháng, mà được tính bằng những kiếp người

Xin hẹn kiếp sau ta sẽ nói,
Kiếp nầy đành gói trọn riêng thôi... !

Mười năm nhớ lại một người, của mùa thu cũ, nỗi nhớ khôn nguôi. Không nói ra được thì phải viết. Tình yêu là mâu thuẫn ? Ngày mong qua mau. Nhưng đêm thì muốn chậm lại :

Đêm nay nhớ lại một người,
Của mùa thu cũ hơn mười năm qua.

Bởi vì đêm có những giấc mộng, trong giấc mộng người thường gặp người, khi mộng tàn canh, người tỉnh dậy cô đơn :

Chợt tỉnh rồi, ôm thương nhớ bơ vơ
Lòng nuối tiếc, muốn đêm dài muôn thuở !

Thơ Việt Dương Nhân, có nhiều chỗ như văn nói mộc mạc, thiếu chải chuốt, nhưng cũng nhờ thế mà tiếng lòng của nhà thơ có được ngôn ngữ riêng biệt, không bị ảnh hưởng tiếng nói của bất kỳ nhà thơ nào. Nó là tiếng kêu tụ nơi tâm hồn tác giả :

Nhờ gió làm ơn gặp một người
Nói rằng : ta đợi mỏi mòn hơi
Hãy về cho kịp, không ta chết
Xin giúp dùm ta nhé gió ơi !

Tình yêu, trong đời một người đàn bà, dù thuở xuân hay buổi tàn thu, bao giờ cũng là một ám ảnh khôn nguôi, người đàn bà có thể chịu sống thiếu thốn mọi thứ, chỉ trừ tình cảm :

Hồn ta như đã lâng lâng
Bỏ chăn gối lạnh một lần nữa đây !

Nhưng một người đàn bà biết suy nghĩ, như Việt Dương Nhân, hai lần khổ hơn so với những phụ nữ khác không bận lòng vì tình yêu quê hương. Quê hương làm động tâm nhà thơ không chỉ hình ảnh bà mẹ già ở quê nhà chờ mong con cháu về xum họp. Quê hương không chỉ là những trẻ thơ tan tác trong chiến tranh và trôi dạt thời hậu chiến. Nó còn là tiếng ca ai oán của làn hơi ''vọng cổ hoài lang'' của ông sáu Lầu. Nhớ chồng khi nghe tiếng trống. Tiếng trống đêm thời Pháp thuộc đưa những người yêu nước đi đày. Nhà thơ cho biết ông nội của mình làm ''tay sai'' cho ''thực dân'' mà người cha lại đi ''kháng chiến'' chống Pháp. Nghịch cảnh gia đình đó không làm giảm lòng gắn bó của Việt Dương Nhân với quê mẹ Việt Nam. Nhà thơ cảm ơn Paris, đất dung thân, nhưng biết ơn Sài Gòn và tạ ơn quê nhà Gia Định. Nhớ mãi từ bát canh chua cá Ngác, tới miếng dừa nước trong veo. Mùi rơm rạ sau mùa gặt. Đặc biệt là vọng cổ, một loại hình nghệ thuật dân gian, giọng sầu thảm, nhưng hơn bất kỳ thứ dân ca nào trên thế giới, bởi sau khi cất lên được tiếng than người ta thấy nhẹ lòng. Vọng cổ, bản chất là thơ, có thể dựng thành ca kịch với nhiều thể điệu khác nhau. Nhị hồ, tức đàn cò, một thứ vĩ cầm Đông phương dìu dặt. Phải là người miền Nam mới thấm thấu được cái hay của vọng cổ. Nó đặc biệt như cây đàn guitar phím trũng, chứa đầy những thanh âm :

''Trưởng huynh ơi ! Đời em là một cánh chim đơn, với cuộc sống thăng trầm gặp bao cơn giông tố, giờ đây em xin bỏ đời cát bụi, cặm cuội ngồi nhà mà cầu nguyện thế gian, và cầu cho Quốc Thái Dân An, mong đất Mẹ Việt Nam có một vầng trăng sáng, rồi đây với những tháng ngày Nắng-Mới, đàn chim Việt sẽ vỗ cánh bay về''.

Vọng cổ, dưới ngòi bút Việt Dương Nhân, không hề ai oán. Thú vị vô cùng khi chúng ta hình dung, trên bờ sông Seine có một người phụ nữ phương Đông bề ngoài Tây hóa, mà trong lòng lại rất Việt Nam, vẫn âm thầm soạn các bài vọng cổ :

''Lấy lửa công minh mà đốt quyền độc trị, cho nước Việt mình có Dân chủ Tự do, và nhà nhà được cơm no áo ấm, hưởng mọi quyền người như tất cả nhân sinh, hơn hai mươi ba năm chiến chinh đà nguội lạnh, mà sao còn nghi ngút lửa thù căm...''

Việt Dương Nhân với tư cách nhà thơ hay soạn giả các bài ca vọng cổ, trước sau vẫn chỉ là người đa cảm, biết thương yêu và chia xẻ cùng thân thích, bạn bè, thương nhớ quê nhà và lòng cháy bỏng một niềm mơ ước chung cho cả dân tộc mình.
"Hãy làm sao cho sáng ngời nước Việt, cho dân tộc mình một cuộc sống bình yên".

Nhưng ở đây, trong bài viết nhỏ nhoi nầy, tôi chỉ muốn nói tới một Việt Dương Nhân nhà thơ. Nhà thơ của Sài Gòn ba trăm tuổi 1668-1998, nơi mà nước mắt và tiếng cười của nhà thơ từng đổ ra, bật lên với bao kỷ niệm :
Yêu em từ thuở vào đời,
Khi cành hoa búp lả lơi gió chiều.
Áo dài tha thướt dập dìu,
Màu hoa cà tím mỹ miều nhởn nhơ.

Em là Gài Gòn, em là kỷ niệm, em là ngày sáng nắng bừng lên ở phía chân trời quê mẹ. Còn ta, Việt Dương Nhân, thường đêm thao thức nơi quê người, ngồi viết một mình, một bóng :

Ta còn ngồi viết mấy dòng,
Cho vơi đi bới nỗi lòng nầy đây !

Bạn đọc yêu thơ Việt Dương Nhân, qua Bốn Phương Chìm Nổi, còn tìm gặp được một tâm hồn sau bao đau thương vẫn :

Bây giờ còn mộng với mơ,
Dệt lên được mấy vầng thơ cuối đời.

Nhưng tới Cát Bụi, chúng ta chỉ thấy một Việt Dương Nhân thanh thản, không buồn vui, không mơ mộng, thoát ra khỏi được ảo ảnh ‘’chấp ngã’, vươn tới một không gian rộng lớn :

Cố gắng vượt qua lượn sóng đời,
Vượt luôn giông bão giữa trùng khơi
Thân còn hiện hữu trong trời đất,
Bốn bể lanh quanh thế mà thôi...!

Nếu không tự giải thoát được, theo Việt Dương Nhân, ngôi nhà cũng như cuộc đời, khi cuộc vui tàn, tiếng đàn, giọng hát lắng ngưng, những người khách xa dần rồi khuất hẳn, chỉ còn trơ lại chủ nhà với nỗi buồn nhiều hơn trước khi có cuộc vui :

Đêm nay nhà thật là vui,
Đàn ca ngân hát, ôi thôi tưng bừng.
Cuộc vui nào, khỏi tàn ngưng ?
Mình ta còn lại, bỗng dưng thấy buồn.

Không chỉ cuộc tình, mà toàn bộ cuộc sống, tự thân nó đã là Cát Bụi. Anh và em, ở đây, như bản thể và tha nhân, mình và người, giữa nhà thơ và sự mơ mộng chỉ còn lại sự nhớ thương :

Tỉnh rồi, anh biến đi dâu ?
Để em ở lại ôm sầu nhớ thương.

Nguyễn Hữu Nhật
***

Thay lời tựa thi tập
"Cát Bụi"

của Việt Dương Nhân

Tôi từ đâu đến đây không biết
Về nơi nao Cát Bụi chẳng hay
Thân chuyển mãi vòng quay bất tận
Tâm một viền trăng sáng đâu lay...

*

Cảm ơn bạn đọc thơ tôi
Tiếng lòng của kẻ bồi hồi nhớ quê
Cánh đồng im lặng tái tê
Cánh chim lẻ bạn bay về chiều xưa

Trên bờ ao cũ nắng thưa
Tiếng cười trẻ dại bây giờ còn vang
Dù đời sớm gặp phũ phàng
Cha đi kháng chiến, mẹ sang thuyền người

Tuổi thơ chiếc bóng bên trời
Khuya lau nước mắt sầu đời bạc đen
Đêm mong soi tỏ ngọn đèn
Để coi chiếc bóng mình quen một mình

Thơ tôi là cõi lặng thinh
Chung quanh thiếu một cái tình người ta
Năm mười hai tuổi rời nhà
Bước chân mỗi bước xót xa phận nghèo

Phố phường bước nhỏ mừng reo
Đầu đời tinh lỡ buồn theo tháng ngày
Trước sau trắng hai bàn tay
Hai bàn tay trắng vốc đầy thương yêu

Thơ tôi chiếc lá cuối chiều
Rụng bay đất khách nghe nhiều đắng cay
Cánh sen bùn lắm phương nầy
Vẫn mơ phương ấy vòng tay mẹ hiền

Chỉ mong đời bớt đảo điên
Mười phương Phật độ bình yên nẻo về
Thương mình khi tỉnh, lúc mê
Chập chờn hư, thực lạnh tê một đời

Cảm ơn bạn đọc thơ tôi
Bốn Phương Chìm Nổi người ngồi tĩnh tâm
Tiếng đàn, giọng hát, lời ngâm
Chỉ như bè nổi âm thầm qua sông

Tới bờ vắng lặng hư không
Buồn vui của những chuyện lòng sớm quên
Bởi chính hồn mình chưa yên
Hỏi thân Cát Bụi ưu phiền sao qua

Thơ tôi cảm tạ gần xa
Tấm lòng tri kỷ nở hoa sen vàng.

*

Tạ ơn các bạn gần xa
Đem lòng thương mến tặng hoa bằng lời
Mai sau mỗi người một nơi
Hương thơm còn gởi lại đời mến thương

Nguyễn Hữu Nhật
(Na Uy, Oslo 1/1999)

Em Là THƠ



Em Là THƠ

Em là THƠ, đã đưa tôi
Qua sông, qua những núi đồi hiểm nguy
Lòng này luôn mãi khắc ghi
Nhờ em tôi được tứ thi giải sầu.
.........!
vdn



*

EM LÀ THƠ
Viết cho nàng Mai Ly,
Tặng vdn.

Em là hoa của nhiệm mầu,
Ươm thơ tươi thắm ,dạt dào ý xuân .
Em là mái tóc giai nhân,
Dệt thiên tình sử, muôn phần diễm trang.

Em là hoa của núi ngàn,
Gửi mây cho gió, thêm hương cho đời.
Trăng tà bóng xế mây trôi,
Em còn thơ thẩn, bên trời thở than ?

2

Thì thôi em, mộng phù vân .
Trăm năm thôi cũng có ngần ấy thôi .
Gặp nhau một thoáng bên trời,
Tiễn nhau một thuở, trọn đời tiếc thương .

Sông kia rồi cũng xa nguồn,
Bên dòng nước chảy, cánh buồm xa xa.
Nàng từ gió táp mưa sa ,
Tấm thân đào liễu, như hoa bềnh bồng

3

Thương thay một kiếp má hồng,
Thuyền tình sóng vỗ, giữa dòng lênh đênh.
Bên bờ vực thẳm vô minh ,
Tấm thân cát buị, như hình phù du.

Đêm nằm xõa tóc hoang vu,
Sương rơi nặng hạt trăng thu đầu ghềnh.
Nàng về gõ mõ tụng kinh,
Bồ đề Tịnh độ, một cành hóa duyên.

4

Sen vàng đậu cánh hoa đêm
Sang xuân có kẻ bên thềm dõi trông.
Ngày xưa má thắm, môi hồng,
Hạ khoe áo đỏ, bềnh bồng tóc mây.

Thu về chuốc chén rượu say,
Sang Đông còn rạng, hoa bay nét cười.
Ngày Xuân có kẻ sang chơi ,
Câu thơ nét nhạc, bên trời hàn sương

5

Một mai đời cũng vô thường,
Cầm như con én lượn vòng mà thôi.
Chiêm bao dỡ khóc dỡ cười,
Tỉnh ra thức giấc, bồi hồi nhớ trông.

Từ em bỏ phố theo chồng,
Con chim thôi hót, trong lồng ngẩn ngơ.
Người về lối cũ hang sơ,
Dấu hài xưa đọng bên bờ trúc mây.

6

Sương đông trĩu cánh hoa gầy,
Nửa đêm con nhạn lạc bầy kêu sương.
Canh khuya giấc điệp mơ màng,
Sáng ra thức dậy vô thường sắc không.

Trông vời trời đất mênh mông,
Quê cha đất mẹ, ngày trông mai chờ.
Đêm buồn nhặt cánh thư xưa,
Chép dòng dư lệ, cũng rời rạc hoa.
7

Nàng về tắm giọt mưa sa,
Tìm trong kỷ niệm ánh tà huy bay.
Ta về nhặt nắng hiên tây,
Gửi hương cho gió gửi mây cho ngàn.
Gửi thơ cho khắp nhân gian,
Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ…
Ai đem tơ dệt thành thơ ,
Ai đưa con sáo bên bờ sang sông ?

8

Em từ bỏ xứ tha hương,
Dấu xưa xe ngựa, phố phường vào thu.
Đêm về nhỏ lệ thành thơ,
Bao năm sầu đọng, úa tờ thư xanh .

Con chim nó hót trên cành,
Em thay áo mới, áo xanh da trời .
Thu vàng bóng nguyệt đầy vơi,
Nhìn trăng có kẻ, bên trời ngẫn ngơ.

9

Nàng về gõ cửa Chân Như ,
Khép trang huyễn mộng, giã từ phồn hoa.
Từ em giũ áo ta bà,
Tóc mây xưa cũng theo tà huy bay .

Trăng về ngõ trúc hiên tây ,
Vàng thu mấy độ, hoa gầy liễu nghiêng .
Từ em thắm đượm mùi thiền,
Sáng qua Vô Ngã, tối miền Hoa Nghiêm .

10

Nhẹ tênh quên hết ưu phiền ,
Muối dưa rau quả, tùy duyên tháng ngày .
Mắt em hiền tựa Như Lai ,
Môi em nở nụ, như ngày mới quen.

Hoa lòng đẹp tựa hoa sen,
Tay lần tràng hạt, TÂM nghiêng bồ đề .
Thuyền từ lạc khỏi bến MÊ
TRĂM NĂM MỘT CÕI, ĐI VỀ CÓ KHÔNG .

Dương Lam

Đấng Anh Thư

Đấng Anh Thư

Nghĩ thương cho chị phận đàn bà
Tự thủa thiếu thời đã vắng cha
Nước mất, đành xuôi giòng viễn xứ
Tha hương, lòng luôn hướng quê nhà
Xả thân tranh đấu cho Dân Tộc
Dũng cảm quên mình bởi Quốc Gia
Bao nỗi gian nan không khuất phục
Tiếng thơm vang dội khắp sơn hà

Naïve

Kính tặng Nữ Sĩ Việt Dương Nhân


 ***

 "Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"

Chết Vì Tình



Việt Dương Nhân
Chết Vì Tình

Anh,

Trời vừa vào thu, cây cỏ u buồn, gió lay lay làm cho vài chiếc lá vàng rơi rụng đầy dưới sân nhà. Mây xám giăng giăng che phủ hết những tia nắng mặt trời. Anh ơi ! Em nhớ Anh vô cùng. Và trạnh lòng nhớ lại những điều may mắn mình được - Và cũng nhớ nỗi buồn đau chợt đến năm xưa...

Lối 10 giờ sáng ngày 21 tháng 3 năm 1984 (ngay ngày vào Xuân) - Mới hơn một năm chúng mình quen nhau.
Hôm ấy, em vừa thức dậy đang sửa soạn để đi xuống Angers gặp Anh. Bỗng tiếng chuông điện theo reo vang... Em vói tay nhấc lên :
- Allo ! dạ, tôi nghe !
Nghe giọng nói nghẹn ngào của Anh đầu giây :
- Em đó hả ? P. con Anh đã tự tử chết rồi.
Em như người trên trời rơi xuống đất, vội vàng hỏi Anh :
- Anh đang ở đâu?
- Anh đang ở phi trường Nantes, chút em lên phi trường CDG rước Anh về phi trường Orly....
- Dạ vâng ! Dạ vâng !
Sau khi nói chuyện ngắn gọn với Anh - bỏ điện thoại xuống, hồn em như đang lơ lửng trên mây. Em vội vàng đi đốt nhang-đèn để Kinh "Cầu Siêu" cho vong linh của P. sớm tiêu diêu nơi miền Cực Lạc. Rồi em thay đồ và trực chỉ lái xe lên phi trường "CDG".
Trong lúc Anh có trong tay "tình-tiền-danh vọng" đầy đủ, công việc làm ăn phát đạt... Thì tai nạn lớn lao nhứt đời Anh là, P. con trai duy nhứt vì "bị tình phụ" mà tự tử chết một cách đau đớn (thắt cổ). Thế mới biết : "Chữ tài liền đến chữ tai".
Nhắc tới đây, em thương và tội nghiệp Anh quá. Nhưng em hơi trách Anh một chút. Vì Anh không nghe lời khuyên của em. Là nhấc điện thoại lên gôi S., Anh làm bộ mời S. đến djéng cơm cuối tuần chung với gia đình Anh. Như vậy mới vuốt tự ái Cô ấy. Vì chính Anh mắng S. trước đó. Em khuyên Anh, nếu thương con thì hãy bỏ hết tự ái để cứu con mình. Nhưng Anh cứ khăng khăng không chịu làm như lời em khuyên. Vậy thì Anh cũng có phần trách nhiệm cái chết của P.
*
Hơn một năm sau...

Vì thương nhớ P. Anh buồn khổ và đau đớn, đến cả năm sau vẫn còn rơi mắt khi có dịp nhắc đến P. - Em an ủi Anh, cho đó là số mệnh - Nhưng Anh lại nằn nặc đỗ thừa, chính S. giết con Anh. Anh nói với em, nếu Anh gặp S. thì Anh sẽ bóp cổ S. cho đến chết. Nghe vậy, em rất lo sợ - Vì em biết Anh có đủ bản lãnh làm việc ấy - chớ không phải chỉ ham dọa thôi.
Rồi Thượng Ðế khiến xuôi đưa đến một chuyện rất hy hữu trên đời. Thời cơ hội, Em đem Anh ra khỏi cảnh thù hận... và từ đó Anh sống êm đềm.

*

Anh,

Xuân-Hạ giao mùa, vào đầu tháng 6 năm 1984, miền Nam nước Pháp đã bắt đầu nắng gắt... Anh và em đi xuống Tỉnh Perpignan để gặp vài khách hàng. Chúng mình ở khách sạn "NOVOTEL". Hôm ấy mình ăn cơm trưa xong, em nhìn ra sân thấy trời nắng đẹp. Em lên phòng thay áo tắm ra piscine thoa kem ngồi phơi nắng. Anh cũng lên phòng thay quần sọt lang thang đi xuống tay cầm tờ báo "Figaro". Anh đến bàn có vươn dù, ngồi đọc báo. Bất chợt, em nhìn sang thấy hàng chữ lớn phía sau :"... Thay mặt Thượng Ðế, vợ chồng chúng tôi đồng lòng tha thứ cho... người đàn ông trẻ (un jeune homme) đã giết con gái "duy nhứt" của chúng tôị..". Em muốn toát mồ hôi lạnh, vội vàng chòm tới :
- Anh cho em mượn tờ báo coi !
Anh giật mình, không biết chuyện gì ? Vì Anh chỉ lo đọc ba cái tiền tệ, cổ phần thế giới (CAC40 = Stock = Cổ phần...) của Anh thôi. Còn những tin tức khác Anh ít khi đọc - Anh nghe em nói mượn tờ báo, Anh liền hỏi !
- Cái gì mà em hoảng hốt dữ vậy ?
- Không. Không. Em không có hoảng hốt... mà... mà tuyệt vời ! tuyệt vời ! Trời ơi ! Hay quá ! Hay quá !...
Anh trao cho em tờ báo, em cầm lên mà hai tay em run run, từ từ đọc... Ðọc xong em quay sang nhìn Anh và thương Anh vô cùng, em nói :
- Anh xem nè ! Hai vợ chồng ông bà... người Hòa Lan này (chỉ hình), ra Tòa Ðại Hình nói lời tha thứ cho kẻ đã giết con của ông bà ta đãy - Anh đọc đi...
Anh liền hỏi em :
- Tại sao họ lại làm được cái chuyện đó ?
- Thì đây nè, Anh đọc đi !...
- Em đọc lớn cho Anh nghe ...
Em cười cười :
- Ðược rồi, em đọc đây :
"... Chú rể tương lai, giết chết vị hôn thê bằng dợi dây băn-đờ-rôn để thắt nơ thắt tuội cho những chiếc xe hoa đến dự đám cưới ngày hôm sau... Hôm qua ra Tòa Ðại Hình, Cha Mẹ cô gái đều đồng lòng tha thứ tội cho cậu rể "hụt" - Ông Bà... đứng lên biện hộ cho tội nhân giết con gái mình, bằng những lời thực tế và hiếm có ai có thể làm được chuyện này ở trên thế gian. Ðây lời là những lời nói rất bình tỉnh - đầy lòng vị tha của Ông Bà... "... Chúng tôi biết chắc chắn, con gái của chúng tôi phải làm một điều gì cho cậu... đau đớn ghê gớm lắm, nên cậu... mới giết con tôi - Chớ không bao giờ khi không mà cậu... làm chuyện này... ".
Em kể tiếp nữa nè :
"Tiếng vỗ tay ầm lên cả căn phòng có khoảng hơn 1 trăm người đến theo dõi... Ông còn quay sang về phía gia đình và thân hữu của tội nhân, gật đầu như có ý xin lỗi. Ông ngước mắt nhìn lên trần nhà và nói tiếp : "Vợ chồng chúng tôi, xin thay mặt Ðức Chúa Trời hoàn toàn tha thứ cậu... Cậu không có lội gì cả. Xin Thiên Chúa hãy rước linh hồn con gái tôi về với Nước Chúa...". (tác giả tạm dịch từ Pháp ngữ).
Em nhìn thấy Anh im lìm mà hai hàng nước mắt tuôn rơi - Em biết Anh đang nghĩ đến P, con trai duy nhất của Anh.
Cơ hội ngàn vàng em không thể nào bỏ qua được. Em cố gắng giải tỏa nỗi căm thù Anh mang nặng với S ra khỏi lòng Anh. Em kéo ghế xít lại gần sát bên Anh, và em ôm mặt Anh hôn lên đôi mắt, đôi mắt Anh lúc nào cũng buồn buồn và có gờn gợn nỗ thù căm. Bắt đầu em giảng giải :
- Anh hãy nên tha thứ cho S - Ph, con trai Anh quyết lòng tự tử chết là để chứng minh tình yêu bất diệt của nó cho S - Trên cõi đời này, Ph có tất cả nhưng chỉ thiếu S là đời nó không còn ý nghĩa gì để sống nữa.
Anh vẫn im lặng, mà nước mắt cứ tuôn. Em nắm cơ hội này, nói tiếp luôn :
- Anh còn nhớ năm rồi chăng ? Anh cũng lụy tình vậy... Ph giống Anh lắm đó (?)... Năm rồi, vì Anh quá yêu em, Anh như thế nào, Anh còn nhớ không ? Nay Ph vì tình mà chết. Em rất khâm phục Ph - và em thường khâm phục bất cứ trai hay gái mà dám chết vì "tình" - Và đây, ngày hôm nay có sự việc này, câu chuyện đầy thương tâm, tràn trề lòng nhân mà gia đình nạn nhân lại thâm hiểu; vì sao mà xẩy ra án mạng như thế, thật là "hy hữu" đó Anh ! Cha Mẹ của cô kia tha thứ kẻ giết con của mình, họ tha thứ được - Còn đàng này Ph, con Anh nó tự hủy mình để chứng tỏ là Ph yêu S nhất đời, Ph dám chết vì tình thật là can đảm và cũng yêu chân thành S.
Chắc chắn trong lòng Ph nghĩ :

"Ðời Anh Không Có Em Là Ðời Không Còn Ý Nghĩa Ðể Sống Nữa... ".

Em để ý thấy Anh đưa mắt nhìn về phía xa xăm, như đang suy nghĩ... Em đoán, có lẽ Anh nói thầm với con trai mình : « Ph. ơi ! Ba đã hết thù S, người yêu của con rồi ! ». Thật sự từ đó đến sau này (hơn 20 năm) Anh không còn nhắc tới Sylvie, và không còn đòi bóp cổ Sylvie nữa.
Tạ ơn Trời Phật !

Việt Dương Nhân
23.9.2005 


Tiễn Bước Chân Ai - ( Kính mến tặng Việt Dương Nhân )

Tiễn Bước Chân Ai
( Kính mến tặng Việt Dương Nhân )


Mùa vàng bay lá thu theo chiều gió.
Tôi thẫn thờ lối ngõ cũ đường quen.
Chốn tịch liêu nhà lặng không đèn.
Đêm xóm vắng.
Nỗi buồn len trĩu nặng.

Chợt nghe xót thương.
Cuộc đời vị đắng.
Nặng bước buồn nơi thôn vắng chiều nay.
Quán chia ly.
Đời hết xum vầy.
Vòng tay ấm từ đây thôi giã biệt.

Tôi trở lại nơi này.
Trời mây không còn xanh biếc.
Mảnh đất sầu hồn Việt hoang vu.
Đường tương lai xa tít nẻo mù.
Nghe rờn rợn lời ma tru sói gọi.

Người xa rồi.
Tôi cô thân chống chọi.
Bao hung tàn.
Tôi mọi.
Vong nhân.
Nẻo buồn tênh đếm bước phong trần.
Nhân Trí Dũng.
Là dân tôi không nhụt chí.

Hạng thấp hèn cố xóa đi Chân Thiện Mỹ.
Kẻ a dua đánh mất trí còn đâu.
Ai nghe chăng?.
Tiếng nấc cơ cầu.
Phận nô lệ.
Chư hầu phương Bắc.

Đỉnh danh lợi bán lương tâm.
Theo giặc.
Thế luân hồi gieo gió gt bão thôi.
Lời dối gian xu nịnh bờ môi.
Có hổ thẹn bởi suy đồi tâm kẻ sĩ.

Thế Nước non đến hồi cực bĩ.
Đời đau thương ma quỉ lộng hành.
Gian hùng.
Lừa lọc.
Hôi tanh.
Kiếp bạo chúa.
Phút tàn canh sẽ đến.

Thôi giã biệt đấng anh thư tôi mến.
Ngõ cuộc đời .
Có khi đến ắt phải có khi đi.
Vng chí niềm tin.
Dấu lệ phân kỳ.
Cõi ô trọc có chi là trường cửu.

Nguyên Thạch

CẢO THƠM BÓNG CHỊ (Thân tặng Việt Dương Nhân)

CẢO THƠM BÓNG CHỊ
(Thân tặng Việt Dương Nhân)

Cha Mẹ đi về Chị đừng đi
Em thơ ngây đất khóc biết gì
Hồn sông xác núi rêu xanh đói
Đứt ruột ve sầu bóng sinh ly

Thương Chị lòng thiền lòng quê hương
Dở dang nghiên bút vút lên đường
Đội trời đạp đất phù sa mộng
Gửi thơm quê Mẹ nuốt đau buồn

Hoa trôi bèo giạt hoa tuyết bay
Hương áo sương mù gót trần ai
Kinh đô ánh sáng mờ dư lệ
Nữ trung hào kiệt lỡ đầu thai

Sinh bất phùng thời hoa khổ qua
Gươm thiêng phục hổ không hàng ma
Đi về lủi thủi đèn không bóng
"Vận khứ anh hùng ẩm hận đa" (1)

Gửi Chị bông sen trắng quê mình
Mặc mưa mặc gió mặc vô tình
Đổi đời ong độc hoa bướm độc
Rửa ruột sạch trơn cầu chân kinh (2)

Xin Chị đừng đi đừng buồn đau
Tang thương mất gốc vẫn còn rau
Mình về mót giống trồng khoai bắp
Con cháu ấm no mãi nghìn sau

Mai vàng Bình Chánh trăng sao (3)
Cảo thơm bóng Chị ngọt ngào ...Chị ơi !

MD.06/17/2009
Luân Tâm


____________
(1) Hai câu thơ bất hủ tuyêt tác cuả danh tướng Đặng Dung thời Hậu Trần, trong bài " Cảm Thuật ":
"Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa"

mà Cụ Trần Trọng Kim đã dịch là:
"Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay"

(2) Hai câu thơ tuyệt vời thâm thuý cuả Cụ Nguyễn Đình Chiểu trong Truyện Lục Vân Tiên:
"Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây"

(3)"Bình Chánh":Tên một quận thuộc tỉnh Gia Định,là quê cuả Nữ sĩ Việt Dương Nhân.


CẢM NHẬN VỀ TRUYỆN DÀI "MAI LY" CỦA CHỊ VIỆT DƯƠNG NHÂN

CẢM NHẬN VỀ TRUYỆN DÀI "MAI LY" CỦA CHỊ VIỆT DƯƠNG NHÂN


Việt dương Nhân là bút hiệu của nữ nghệ sĩ Quốc Hương (Paris). Nghệ sĩ Quốc Hương có một điều đặc biệt khác với những nghệ sĩ khác ở chỗ chị vừa là kịch sĩ, vừa là thi sĩ và vừa là văn sĩ. Chữ "sĩ" dính với cuộc đời giống như chữ "tài", vì nó đòi hỏi phải có một năng khiếu nào đó. Như Đại Thi Hào Nguyễn Du đã từng có câu : "Chữ tài liền với chữ tai một vần". Nghiệm lại, độc giả thấy đúng thật ! Nàng Thúy Kiều của Nguyễn Du vừa đẹp, vừa tài, và phải chịu biết bao đoạn trường cay đắng. Ở đây, thời đại này, chúng ta cũng có một nàng Thúy kiều cũng duyên dáng, cũng tài và cũng chịu biết bao nhiêu đau khổ mà cuộc đời đã đưa tới cho nàng. Độc giả muốn nói đến nàng "Mai Ly" trong truyện dài mà nữ văn sĩ Việt Dương Nhân đã dùng cây bút để viết lại một cách tuyệt vời cuộc đời đau thương tủi nhục của Mai Ly hay của chính tác giả.

Truyện dài "Mai Ly" gồm 3 tập đã nói lên được nếp sống xô bồ của xã hội, rất tình tiết éo le, khúc mắc. Tác giả đã tạo được những say mê, thích thú cho độc giả. Lời văn giản dị, lưu loát với những câu đối thoại thật tự nhiên, không gượng ép, làm độc giả không bị nhàm chán, và rất hồi họp đọc từ đoạn này sang đoạn khác...... cho đến hết. Tác giả đã tuôn ra tất cả những gút mắc, những nỗi niềm của lòng mình.

Truyện sống động và thật... đến nỗi tác giả đã rất thành công làm độc giả phải rơi lệ, xót thương thân phận lạc loài côi cút cho một bé gái mới 12 tuổi đã mất Cha, sống xa Mẹ, bị đời ruồng bỏ, bị chị dâu đánh đập tàn nhẫn . Độc giả lại phải tiếp tục rơi lệ cho Mai Ly lúc bị đời gạt gẫm, bị hất hủi, bị người phụ tình vì mang cái tội nghèo . Cái chân thiện mỹ trong con người của tác giả đã tạo nên những truyện có kết cục đẹp, đầy lòng nhân đạo và luân lý đạo đức, đã làm cho độc giả rất mãn nguyện khi đọc xong truyện dài "Mai Ly" nói riêng, và nhiều truyện ngắn khác của tác giả, nói chung. Một cái đặc biệt khác của truyện "Mai Ly" là những câu thơ giới thiệu, dẫn chứng thật hay, thật sát ý với cốt truyện. Loại truyện đi kèm với thơ như vậy rất là hiếm có. Tác giả đã nổi bật trong cách trộn cả thơ cả văn này.Truyện dài tác giả viết giống như một truyện phim. Độc giả nghĩ nếu truyện này mà đem đóng thành phim thì chắc sẽ gặt hái được số người đi xem rất nhiều .

Tóm lại, truyện dài này quả là một tuyệt tác mà tác giả đã bỏ hết tâm huyết để hình thành. Truyện "Mai Ly" xứng đáng là một tác phẩm văn học giá trị, đáng để cho chúng ta lưu giữ và trân trọng .

UPMN xin tặng văn thi sĩ Việt dương Nhân những câu thơ mộc mạc dưới đây :


THƠ TẶNG CHỊ VIỆT DƯƠNG NHÂN

Mặn mà duyên dáng tuyệt vời

Quốc Hương nghệ sĩ người đời mến thương
Sắc tài sáng rực như gương
"Thúy Kiều" thời đại sầu vương phủ đầy
Tánh tình nhân hậu thẳng ngay
Dù đời vùi dập không lay lòng thành
Thơ văn ca hát lừng danh
Đoạn trường bao nỗi cũng đành vương mang
Cầu mong ngày mới sang trang
Điểm tô hồng thắm đời nàng từ đây
Việt Dương Nhân đã đắp xây
Giúp người hạnh phúc ngập đầy tình thương .

Uyên Phương Minh Nguyệt