Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

DÃ THẢO: Tản mạn cuối tuần – Thiên tình sử kỳ lạ nhất VN : Bùi Giáng & Kim Cương

Posted on

Cõi đời một kiếp yêu em
Dẫu là bỏ cuộc, mộng tìm dáng xưa 


Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ…Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa nguồn.
Kỳ nữ Kim Cương chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời, trong tâm hồn và trong sáng tác của Bùi Giáng. Trong tâm hồn ông, Kim Cương là “đệ nhất mỹ nhân” trong thiên hạ. Ông yêu Kim Cương bằng một tình yêu lạ lùng nhất thế gian. Chỉ có thể nói đó là một tình yêu bất tử. Đã có rất nhiều giai thoại xung quanh mối tình kỳ bí này.
Đối với Kim Cương, tuy là mối tình đơn phương từ phía Bùi Giáng, nhưng nữ nghệ sĩ đã rất trân trọng tình yêu của ông, một sự trân trọng vô cùng cảm động và hiếm thấy. Nhiều năm qua, nghệ sĩ Kim Cương có những lý do riêng nên đã không lên tiếng một cách chính thức. Lần đầu tiên, bà tiết lộ với Báo Thanh Niên một số sự thật về thiên tình sử này, vì đã đến lúc bà không còn lý do để tiếp tục im lặng… Chúng tôi mạn báo Thanh Niên để giới thiệu riêng cùng bạn đọc những tiết lộ của Kim Cương. Chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn nghệ sĩ Kim Cương. Những tiết lộ này sẽ giúp cho công chúng hiểu rõ hơn con người và sự nghiệp của một thi sĩ độc đáo vào bậc nhất của đất nước.
Có lẽ trong cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì chuyện tình đơn phương của ông với NSƯT Kim Cương là nổi bật nhất, kỳ lạ nhất, và cũng cảm động nhất. Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ của ông viết tặng riêng bà, cả hình ảnh nữa, nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng vừa qua đời nhiều đơn vị còn đặt vấn đề “mua” những tấm ảnh, tập thơ đó. Bà nói: “Tôi không muốn đem tình cảm của Bùi Giáng ra đánh bóng tên tuổi của mình hoặc làm gì đó có dấu ấn kinh doanh. Dù tôi không yêu ông, nhưng tôi trân trọng tình yêu của ông. Tuy nhiên, bây giờ sau loạt bài của Báo Thanh Niên, tôi thấy đây không còn là chuyện riêng tư nữa, mà Bùi Giáng là một sự kiện văn học chung của đất nước, cần có thêm nhiều thông tin về ông. Và vì không lên tiếng nên có những thêu dệt không đẹp cho Bùi Giáng, vì vậy tôi chỉ muốn nói rõ một vài sự thật để người ta hiểu đúng ông hơn”.
Kim Cương biết Bùi Giáng lúc bà khoảng 19 tuổi, còn theo đoàn cải lương của má Bảy Nam nhưng đã được mệnh danh là “kỳ nữ”.

Thật ra, ông chú ý đến bà trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh – Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo Kim Cương: “Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị”. Kim Cương trả lời: “Ừ, thì mời ổng tới”. Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có “điên điên” như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi cả cầu hôn, nhưng bà đều né tránh. Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó “kỳ kỳ”, bất bình thường, nên bà sợ. Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: “Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi”. Kim Cương ngần ngừ: “Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính…”. Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới. Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới… 8 tuổi. Kim Cương hết hồn. Thôi rồi! Ổng đúng là không bình thường!
Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng mỗi bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang ngoài đường, hò hét, rồi cứ địa chỉ nhà Kim Cương mà tới. Thằng bé Toro con của Kim Cương lúc ấy khoảng 5 tuổi, thường trố mắt ra nhìn ông, và hỏi: “Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá?”. Tư duy trẻ con thật ngộ nghĩnh, nhưng lại rất chính xác. Thì trên người Bùi Giáng có đủ thứ: nào hộp lon treo lủng lẳng, nào lá cờ giắt sau lưng, nào nhánh cây, vòng hoa trên đầu… cả một nải chuối đeo thường xuyên trên cổ. Không mở cửa cho ông vào là ông la hét, đập cửa, chửi um sùm, ném đá nữa, khiến hàng xóm náo động. Nhưng riết rồi quen, mỗi lần ông tới nhà Kim Cương ai nấy đều cười. Má Bảy Nam ở trên lầu chỉ cần nghe la rùm beng, đập cửa ầm ầm, là hỏi: “Bùi Giáng phải không?”. Nhiều lần ông say khướt, nằm ịch xuống gốc cây trước nhà Kim Cương, mọi người phải khiêng vào. Bà lắc đầu: “Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng khiêng vô rồi cũng sợ rủi ổng chết trong nhà mình. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá”.
Nhưng điều hay nhất là mỗi khi vô nhà Kim Cương ông lại sáng tác thơ để tặng bà. Tiện tay xé bất cứ tờ giấy, tờ lịch nào là ông viết ào vô đó. Nguồn thơ yêu cứ tuôn trào như suối, không vơi cạn theo năm tháng. Về sau, khi ông “quậy” quá thì Kim Cương nghĩ ra cách, không mở cửa, mà lòn một cuốn sổ ra khe cửa cho ông viết thơ. Ông hí hoáy một hồi, rồi vui vẻ bước đi. Suốt 40 năm, cả chục cuốn sổ tay đã đầy ắp chữ của ông, chỉ riêng tặng “nương tử Kim Cương”. Bà trân trọng gìn giữ trong ngăn tủ. Những vần thơ yêu với nét chữ ngả nghiêng chệnh choạng nhưng hồn nhiên say đắm lạ kỳ.

- Kính thưa nương tử Kim Cương

Tấm lòng rộng mở phi thường bấy nay
Ngàn năm điêu đứng đọa đày
Thiên thu sử lịch cau mày về sau
Thưa em đời mộng dạt dào
Tình yêu vô tận yêu đào vô biên
- Kể từ tao ngộ đầu tiên
Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng
Bốn mươi năm đã lẫy lừng
Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân
Trái tim thiết thạch vô ngần
Từ tam thu tới tử phần hôm nay
Kể từ sử lịch xa xuôi
Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em
Lang thang vạn dặm độc hành
Cẫm nang bỏ cuôc đời miǹh trao em

**** 

Quyền lực” của Kim Cương

Phải nói là Kim Cương có “quyền lực” rất lớn đối với Bùi Giáng. Cứ nghe tên bà là ông trở lại ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Một lần, ông làm “chim bay cò bay” giữa phố, gây ách tắc giao thông, công an tới lôi ông vào cũng không được. Tình cờ có ông bạn Đoàn Thạch Hãn trông thấy, thế là anh ta rỉ tai ông: “Kim Cương nhắn ông tới nhà kìa!”. Lập tức ông riu ríu đi theo Đoàn Thạch Hãn.
Ông còn “ái mộ” bà theo kiểu “kinh khủng” của ông. Người ta ái mộ thì xin chữ ký, xin hình, còn ông thì xin… quần. Ông tới nhà nằng nặc đòi bà cho ông cái quần. Bà lấy quần của cậu Toro nay đã lớn cỡ ông mặc vừa. Ông giãy nảy không chịu, đòi cái quần của Kim Cương mới được. Bà bực quá, đưa thiệt. Lập tức ông mặc vô và rồi không chịu thay ra. Tắm xong, mặc lại. Tỉnh bơ.
Và sau này khi ông ở nhờ nhà anh Hoài – cháu gọi ông bằng bác họ – tại Gò Vấp, thì cũng chỉ Kim Cương là người phụ nữ duy nhất được ông cho phép bước vào nhà. Nhiều lần, các bạn thơ nữ có ghé thăm ông, nhưng vừa mới nghe cháu vô báo tin là ông đã la hét om sòm, đuổi họ như đuổi tà: “Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây. Đi ra! Đi ra hết!”.

Nghệ sĩ Kim Cương nói: “Tôi rất trân trọng tài năng của ông, nhưng phải nói thật là ông điên nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc”. Thỉnh thoảng, khi ông hơi tỉnh thì Kim Cương cũng ngồi bàn chuyện thơ văn với ông cho ông vui. Những lúc ấy, ông gọi bà bằng “cô” đàng hoàng chứ không “nương tử”, không “Hằng Nga” gì hết. Nhưng có một lần, ông làm bà hết hồn. Hai người bàn luận đến Kiều, bà đọc mấy câu lỡ có sai một chút, ông liền đập bàn, la hét, nhảy dựng lên: “Tại sao Kiều mà cô nói sai như vậy? Câu vậy mà cô nói là của Kiều hả?”. Thấy ông trợn mắt giận dữ, bà cứ ngỡ ông sắp bóp cổ mình tới nơi. Bà quên mất rằng ông cũng yêu Kiều say đắm như yêu bà
Có một chuyện nhỏ, nhưng cảm động. Kim Cương nói rằng Bùi Giáng có đóng phim gì nữa đó, chắc đóng vai phụ nho nhỏ thôi. Kim Cương nhớ khi ông lãnh tiền thù lao, liền mua hai trái xoài đem tới cho bà. Rất dễ thương.
Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: “Suốt 40 năm, ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, thì ngược lại, tôi đối với ông như chỗ dựa tinh thần, bất cứ lúc nào nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt”. Bởi đơn giản, trong đầu Bùi Giáng chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất, đó là địa chỉ và số điện thoại của Kim Cương. Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay la hét, làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu: “Người thân cuả tôi là Kim Cương, ở số… Hoàng Diệu, điện thoại 844…”. Thế là công an réo gọi Kim Cương. Bà đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông bị té, bị thương, người ta chở vô bệnh viện, ông cũng chỉ “khai báo” y như vậy. Bệnh viện lại réo bà. Bà lại đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, bị người ta đánh, bà lại đến đưa ông về. Có lần, ông xuất hiện trước nhà bà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh, bà hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu. Ông không chịu: “Chừng nào cô đi với tôi thì tôi mới đi”. Ừ, thì đi. Kim Cương gọi chiếc xích lô chở ông, vừa ngồi xe ông vừa nói vung vít, mặc cho Kim Cương chịu trận.
Và như thường lệ, trong cơn điên điên tỉnh tỉnh, ông lại tiếp tục làm thơ yêu qua cuốn sổ nhỏ nhét vào khe cửa nhà bà:

- Yêu nhau từ bấy tới nay
Xiết bao tâm sự từ ngày qua đêm
Thưa em nương tử dịu mềm
Bốn mươi năm lẻ êm đềm vô biên
- Đầu tiên tiên nữ Kim Cương
Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim
Cúi đầu bái tạ tình em
Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau
- Làm thơ tiếp tục yêu em
Ồ Kim Cương ạ êm đềm vô song
Kể từ lịch kiếp long đong
Anh điêu tàn tới thong dong bây giờ

Hư vô và vĩnh viễn
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ

Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Đường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo
Đêm tàn canh khắc ngợi nguyệt gương ngàn
Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu
Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng
Để bây giờ em có biết nơi đâu
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không
 
Lời chế diễu sâu sắc-không điên chút nào!

Khi Trung Tá Không Quân Phạm Tuân được Liên Xô cho đi quá giang trên con tàu vũ trụ với một mớ “bèo hoa dâu” (không ai biết để làm cái trò khỉ gì!!!), nhà nước ta làm rùm beng cứ y như là chính mình đã thành công trong việc vào không gian. Trong khi mọi người dân chỉ coi sự kiện này là một sự “Đi Ké” thì báo chí, truyền hình, truyền thanh hồ hởi loan tin rất lâu, truyền cả sự vui sướng lố bịch đó cho các đồng chí “ngố” đến độ một đảng viên cha viết thư cho con đang bị tù cải tạo, ngoài chuyện gia đình cũng chêm vào một câu rất vô duyên “Ba cũng nói thêm cho con biết một tin mừng cho cả nước và gia đình ta là đồng chí Phạm Tuân đã bay vaò vũ trụ”. Người con đọc xong đưa cho các bạn tù khác xem với cái lắc đầu chán ngán.
Người ta hồ hởi như thế mà ông “điên điên” Bùi Giáng lại ca ngợi bằng cách viết hai câu thơ chúc mừng lên tấm bảng treo toòng teng trước ngực: “Hoan hô đồng chí Phạm Tuân-Khi không ông lại nhẩy tưng lên trời”. Rõ ràng là 2 câu thơ chế nhạo. Ai dám nói ông điên lúc này?
Ba lời cảm tạ của Kim Cương
Bùi Giáng về ở nhà của anh Hoài vào khoảng năm 1978, thì đến khoảng 1992 đã hơi tỉnh tỉnh. Nhà thơ Trụ Vũ thường ghé chơi với ông. Một lần Trụ Vũ bảo: “Kim Cương hẹn ngày mai lên thăm anh”. Thế là suốt đêm ông không ngủ. Sáng dậy, ông đi tới đi lui, đứng ngồi không yên, và càu nhàu: “Cái thằng Trụ Vũ, chừng nào lên thì lên, nhắn nhe làm chi cho người ta sốt ruột”.
Anh Hoài còn tiết lộ ông phải giả vờ uống một tí rượu để đóng vai “say”, như thế khi Kim Cương lên thăm ông mới có cớ đi ngả nghiêng cho Kim Cương dìu đỡ. Nhưng có lần uống mãi, uống mãi, rồi say thật lúc nào chả biết, khi Kim Cương đến nơi thì ông đã… ngủ khò.
Một bữa, Kim Cương đến nhà, tặng ông đóa hoa hồng. Ông sung sướng quá. Kim Cương về rồi, ông hỏi anh Hoài: “Làm sao giữ được hoa tươi mãi hè?”. “Ba ngày là nó héo thôi bác ơi!”. “Trời ơi, của Kim Cương tặng tao, phải giữ hoài chớ bây!”. “Con có cách. Đem hoa trút ngược xuống thì sẽ giữ giùm bác được vài tháng”.
Đúng là giữ được vài tháng, đến khi hoa đã khô nát ông mới đành lòng chia tay.
Gần 60 tuổi, ông tới nhà bà với đôi mắt nheo nheo không nhìn thấy rõ. Bà dắt ông đi mua cặp kính lão. Nhưng chỉ một tháng sau, ông xuất hiện với một bên tròng kính bị bể vì người ta đánh. Bà dỗ ngọt: “Tôi mua cho anh kính mới nghen”. Ông lắc đầu: “Thôi cô, nhìn đời bằng một con mắt đủ rồi.
Kể ra, đâu chỉ có Bùi Giáng kiên nhẫn và thủy chung với kỳ nữ Kim Cương, mà chính Kim Cương cũng đã đáp lại mối tình đơn phương của Bùi Giáng một cách chân thành và kiên nhẫn, thủy chung suốt 40 năm, gần giống một người chị, một người mẹ. Cho nên, có người nói với bà: “Chắc kiếp trước Bùi Giáng mắc nợ bà!”. Bà đáp vui trở lại: “Hổng biết ổng mắc nợ tui hay tui mắc nợ ổng!”.
Những lúc tỉnh táo, ông nói: “Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này!”. Nhân đó bạn bè hỏi: “Kim Cương có cái gì mà anh thương dữ vậy?”. Ông đáp: “Lúc tôi gặp cô trong đám cưới của Hạnh – Thùy, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang tỏa tỏa ra, tới bây giờ vẫn còn tỏa”.
15 ngày trước khi chết, Bùi Giáng đến nhà Kim Cương để lại mấy câu thơ như báo trước điềm chia ly:
- Thương yêu có lẽ như là
Nghi ngờ nhau mãi vẫn là Kim Cương

- Ông đi đau xiết vui buồn
Một mình ở lại muôn trùng em yêu
Rồi ông té, chấn thương sọ não, chở vào Bệnh viện Chợ Rẫy. Người đầu tiên gia đình gọi đến là Kim Cương. Kim Cương nói: “Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng sạch sẽ. Đầu cạo sạch, không còn mớ tóc bù xù nữa. Và quần áo bệnh viện thì trắng bong. Cho nên tôi nhìn ổng không ra, cứ chạy đôn chạy đáo khắp các phòng tìm ổng”. Những đứa cháu xin bà cho ý kiến. Bà đồng ý để bác sĩ phẫu thuật cho ông dù chỉ còn 1% hy vọng.
Nhưng rồi Bùi Giáng đã ra đi. Trước mộ ông trước giờ hạ huyệt, Kim Cương nhẹ nhàng thủ thỉ:
“Thưa Bùi Giáng! Đời ông là một đời giang hồ, nhưng mọi người vẫn mến thương ông, chắc ông cũng mãn nguyện rồi. Riêng tôi có 3 điều cảm ơn ông. Thứ nhất, ông đã để lại một sự nghiệp thơ cho đời. Thứ hai, cảm ơn mối tình 40 năm ông dành tặng tôi, tới giờ tôi có thể nói đó là mối tình lớn, ông là người yêu tôi chung thủy nhất, lâu dài nhất. Thứ ba, cảm ơn vì ông đã cho tôi một bài học, rằng dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người cũng phải có một mối tình để sống“.
Nhưng chắc gì Bùi Giáng đã chịu xa lìa Kim Cương. Ông còn một lời nhắn nhủ viết trong cuốn sổ tay tại nhà Kim Cương:
“Kiếp sau gặp lại nhau, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương chấp thuận cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương”.
Và:
Vô ngần tao ngộ đầu tiên
Em bao giờ biết anh phiền ưu sao
Yêu em từ những kiếp nào
Về sau cũng niệm nguyên màu ban sơ.

 thi sĩ Dã Thảo

Kính mời thưởng thức thêm Bùi Giáng >>  http://vnthuquan.net/tho/tho.aspx?id=1575&thisi=B%C3%B9i%20Gi%C3%A1ng 


ST 

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

Kể Chuyện Về Người Nghệ Sĩ - Việt Hải Los Angeles

Hôm nay tôi xin kể chuyện một nhân vật không còn xa lạ với thế giới liên mạng nữa. Ông vốn là một luật sư, một nhà đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam, một nhân sĩ trí thức ái quốc, một giáo sư dạy Pháp văn cấp đại học, một nhà văn, một nhà thơ, một họa sĩ, một điêu khắc gia, một người thưởng ngoạn âm nhạc cổ điển,... người mang nhiều phương danh lắm, nhưng tôi chuộng phong vị xã hội (titre sociale) do bản tính say mê văn học và nghệ thuật của ông, đó là "nghệ sĩ".                                                 
Tôi có dịp trao đổi email với nhiều vị nhân sĩ cộng đồng hải ngoại về vụ scandal tai tiếng khi tự dưng có những vị trí thức cổ xúy nói chuyện gửi "kiến nghị", bị xem là hành động ngây ngô và dại dột nhất lịch sử tị nạn Việt Nam về cho nhà cầm quyền CSVN, sau đó nhị vị LS Trần Thanh Hiệp và vị tôi muốn đề cập đã cho những bài viết phản biện tích cực, đúng đắn hồi âm đến "36-1" vị trí thức nêu trên (xem link tham khảo "a" dưới cùng), và rồi nhà cầm quyền CSVN vất sọt rác bản kiến nghị được định giá là kệch cỡm không thích hợp. Người tôi muốn nêu danh chính là luật sư Lưu Nguyễn Đạt, ông đáp lễ nhóm dâng kiến nghị bằng những lời lẽ mang tính cách thuyết phục, lý lẽ vững chãi, văn phong nhẹ nhàng nhưng thâm thúy. Từ đó tôi tìm hiểu là vị luật gia này, ông vốn là người có DNA nghệ sĩ tính, thật vậy.
                                                            Matt reading The Hand of Hope
Bàn Tay Hy Vọng (Hand of Hope)
Năm 1975 ông di tản và ghé trại tiếp cư Pendleton, tôi sang đấy xơi cơm chùa hơn một tháng, tạm trú tại trại 4 không xa khu vực hành chánh trại là bao, nhưng mà lại không biết vị điêu khắc gia tài danh Lưu Nguyễn Đạt đã tạc một tác phẩm kỷ niệm về cái biến cố đau buồn, khi mà người Việt tị nạn đổ sang Hoa Kỳ ồ ạt. Tác phẩm nghệ thuật "Bàn Tay Hy Vọng" (Hand of Hope), bức tượng xi măng cốt sắt mà ông được Chuẩn Tướng Paul G. Graham (Ret. at USMC Brigadier General), vị Chỉ Huy Trưởng trại Pendleton của TQLC Hoa Kỳ đã mời ông thực hiện, để lưu niệm cuộc tị nạn vô tiền khoáng hậu, vô cùng vĩ đại đầu tiên của Người Việt tại Hoa Kỳ. Bức tượng này đã được nhìn nhận là một Tượng Đài Kỷ Niệm của Quốc Gia (thuộc Chính Phủ Liên Bang - Federal Monument) nằm ngay ngỏ cổng ra vào của trại Lính Thủy Quân Lục Chiến gần Thị Xã San Clemente, cách phố Little Saigon của phe ta độ 36 miles hay cách San Diego khoảng 60 miles và cũng là giao điểm tụ họp của gần trăm ngàn người Việt Tị Nạn đã về lại thăm viếng lại trại này để tưởng niệm cuộc di tản qui mô năm 1975 qua cửa ngỏ nắng ấm California.
Lưu Nguyễn Đạt chắc chắn là người của điêu khắc, của hội họa (xem bài viết của Hồ Trường An, ghi chú ở bên dưới), Lưu Nguyễn Đạt cũng là người của máu thơ văn. Ông cho biết lúc nhỏ theo học ở Lycée Albert Sarraut, rồi từ Hà Nội vào Nam nhập học tại Lycée Yersin vào mùa thu Đà Lạt vào năm 1954, khi mà tôi còn bé lắm, chưa biết về thơ Jacques Prévert hay Paul Verlaine như ông. Sau cùng ông dấn thân vào con đường sáng tác và điều nghiên văn học, cùng tư tưởng Việt tộc. Bài này sẽ xoáy nhiều về thi ca. Nhà thơ Lưu Nguyễn Đạt sáng tác nhiều thơ, tôi xem thơ ông làm có thơ lục bát và có thơ tự do (vers libre).

Nghệ sĩ Lưu Nguyễn Đạt

Theo ông tâm tình thì nếu đại học văn khoa Sài gòn tạo cho ông môi trường tìm hiểu về văn học và mỹ thuật thế giới, thì đại học luật khoa Sài gòn giúp ông trau dồi khả năng cứng cáp về Việt ngữ. Tôi đọc thơ ông trong sự thán phục ngẩn ngơ, một người được đào tạo trong môi trường chất đầy nhốc văn hóa Pháp thì làm sao có thể sáng tác thơ Việt Nam nhuyễn nhừ như thế nhỉ... à, thì ra như vậy.

Về phạm vi thơ, như đã đề cập Lưu Nguyễn Đạt sáng tác nhiều thơ, loại đấu tranh có, yêu quê hương có, lãng mạn có, thơ thiền có, nhuốm chất triết lý có, nhưng không phải loại lãng mạn thiên về nhục thể, hay đượm nét hiện sinh (existentialisme), khi tôi đọc Thanh Tâm Tuyền, ngẫm nghĩ thơ được thi sĩ nâng niu khá táo bạo, như môi em là làn mật ngọt và vùng ngực em mang như đồi thơ bao la, bát ngát, thơ cho thấy thi sĩ đã diễn đạt cái nội tâm sâu kín nhất của ông:

"Đêm hiền từ nhỏ to trên trán
Màu đen sáng đủ ngó vào nụ cười
Có đấy không này em mưa chan hoà
Trên ngực trên ngực em bát ngát"

Sự lãng mạn hơn nữa khi thi sĩ mô tả làn da trắng toát của người yêu thật xác thực ý nghĩ, hỡi đôi mắt trần gian đăm chiêu với dục vọng, hôn em như muốn cắn đôi môi cho vơi đi hết những nỗi nhớ nhung:

"Da trắng như tiếng hát ở trên trời...
Anh cúi xuống hôn cánh môi tím màu đêm mà thương nhớ...
Đừng trói anh vào trần gian bằng mắt em nhìn kia...
Người đàn bà rũ tóc thành một cơn bão mặn
Hương nồng chiều dòng kinh mùa hè... "
(trích thơ Thanh Tâm Tuyền)

Tôi đọc thơ thi sĩ Bích Khê, thơ diễn tả nỗi say thơ thiên về nhục thể tràn dâng, không úp mở. Bích Khê táo bạo trong tâm hồn, trong thơ tình, ông làm thơ mơ tiên nữ, ông cảm nhận sự cuồng si khi muốn cướp thể xác của tiên nữ, truy tìm cảm giác mạnh bạo của khoái lạc trong giấc mộng chiêm bao. Khoái cảm nhục thể của Bích Khê đưa thơ ông đến mức ngậm cắn đôi môi tiên nữ, cơn khao khát tình dục cào cấu lên đôi gò bồng đảo của nàng. Hãy xem bài thơ táo bạo có tên là "Xác Thịt":

"Tôi vồ người như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông"

Trong bài "Xuân Tượng Trưng" Bích Khê diễn tả nét xuân tình trên dáng hình hài của kiều nữ khoả thân, thơ ông dùng từ ngữ tả chân thật đến độ "toạc móng heo", hãy xem ở câu 3 và 4 dưới đây như:

"Ðêm nay xuân đã lại
Thuần tuý là tượng trưng 
Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt
Bay qua cụm liễu khơi
Những cườm tay điểm hột
Sương phất phơ lau lách
Khẽ uốn mình giai nhân
Ðường non kheo điêu khắc
Những dáng hình khoả thân..."

Lưu Nguyễn Đạt sáng tác 44 bài thơ trong loạt thơ collection, tôi tìm thấy bài sau, xin trích đoạn nhậy cảm của sự tưởng tượng nhất, "sexy" nhất, từ hình thể, cởi áo ngoài đủ hé mở chiều sâu:

"tranh trừu tượng thoát li từ hình thể
cởi áo ngoài đủ hé mở chiều sâu
mắt em đẹp nhưng màu môi xa thế
quyện dư âm ngọt lịm cả mưa ngâu"
(Bài 18. Trừu Tượng)

Thơ như vậy vẫn còn lành, thơ say hay say thơ của Lưu Nguyễn Đạt khiến tôi liên tưởng đến thơ Beaudelaire, bài được trích hai đoạn:

"hãy thức tỉnh lần đầu khi còn say lần cuối
hãy tận hưởng đầy vơi ngay trong hồn vắng vợi
hãy đi suốt cuộc đời dù không sao đi nổi
hãy hẹn lại mùa yêu dù mưa buồn trăm nỗi

hãy mở đọc thơ tôi khi trời là biển tối
hãy ghé lại tâm hồng khi nắng ngọt viền môi
hãy thăm hỏi lòng em từ đáy nguồn bối rối
hãy chết đi chốc lát để vĩnh cửu trào khơi"
(Hãy Mở Rộng Tình Yêu)

Thi sĩ dịch sang Pháp ngữ:
"réveille-toi maintenant à la fin de l’ivresse
réjouis-toi à present aussi bien que dans la solitude
accomplis ta vie même si le parcours semble impossible
et retrouve la saison d’amour malgré la pluie qui s’attriste

ouvre et lis mes poèmes quand le ciel sombre dans la mer nocturne
penche-toi sur ton âme de rose
quand le soleil mûrit à tes lèvres de miel
consulte ton coeur du tréfonds de tes peines
pour vouloir en mourir un moment et les survivre dans l’éternité"
(Ouvre Ton Coeur D’Amour)

Cái say thơ của Lưu Nguyễn Đạt theo tôi chút gì đó vẫn lãng mạn như chất say thơ Beaudelaire hay Vũ Hoàng Chương:

"Hãy Say Đi"
(Enivrez-Vous)

"Hãy say,
Nào hãy say đi
Đất trời còn đó
Ngại gì không say
Tiếc chi giữa thế gian này
Bao nhiêu gánh nặng, bấy nhầy trên vai
Xác thân run rẩy từng ngày
Hãy say,
Quên kiếp đọa đầy nhân sinh
Say… thơ,
Say… rượu,
Say… tình,
Say lòng nhân cách tuyết trinh trong đời…"

(Bài "Hãy Say Đi" (Enivrez-Vous) -
Charles Beaudelaire. Theo bản dịch của
Nguyễn Tâm Hán)

Hay cái say thi hứng trong thơ của Vũ Hoàng Chương:

Ngựa ơi, hãy nghỉ chân cuồng khấu
Cho thỏa lòng ta nỗi khát khao
Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch
Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao
Tình hoa thuở trước xô về đọng
Ở phiến gương vàng một tối nay
Ta lặng buông thân trời lảo đảo
Mơ hồ sông nước choáng men say”
(Chân Hứng)
Bài cuối cùng thứ 44 trích đoạn. Lưu Nguyễn Đạt cho về kinh đô ánh sáng Paris, "Giữa Gió Paris":

"giữa gió Paris nắm tay Balzac
vườn phố Bréa nắng héo đá nhoà
cà phê em đợi miệng ngọt môi hoa
ta hẹn cuối trời nguồn thơ giấc lạ"

Baudelaire cho thơ về Paris của tình yêu:

"Paris dỗi, nỗi buồn vô cớ
Trong lòng tôi vẫn cứ trơ trơ
Lâu đài đồ sộ cửa nhà
Phố này, xóm nọ, hàng qua ảo huyền
Chỉ ký ức vững bền hơn đá..."
(Con thiên nga, dịch giả Vũ Đình Liên)

(Paris change! mais rien dans ma mélancolie
N'a bougé! palais neufs, échafaudages, blocs,
Vieux faubourgs, tout pour moi devient allégorie
Et mes chers souvenirs sont plus lourds que des rocs... "
(Le cygne, à Victor Hugo)
 
Thi sĩ Lưu Nguyễn Đạt
Lưu Nguyễn Đạt quan niệm về "người thơ" (hay thi sĩ): "vừa là người, vừa là chất thơ. Làm sao có thể phân biệt được. Nếu phân biệt, thì hoặc hết là người, hoặc hết là thơ. Vì thế nên “Người Thơ” chỉ có trong nguyên vẹn, trong toàn diện của cả ba thành tố: Người, Tình Yêu và Thơ...".
Tình thơ của Lưu Nguyễn Đạt đong đầy qua bút giấy, bài #42, "Níu Gọn Lưng Trời":
"em về lối cũ cô liêu
đồi nghiêng gót hạc thân xiêu ngây hồn
sáng trăng phân mảnh ánh lòng
môi khuya úp mở thiên đường xa xôi"

Bài #38, "Nửa Môi", hôn em với chất thiền tâm:
"hôn em thế kỷ viễn miên
tháng ngày bỏ ngỏ miệt miền dư âm
phút giây buộc chỉ thăng trầm
xanh xao vuốt nhẹ dương cầm huyền siêu.

Bài #24. yêu em nhuốm chất thiền, "Khải Minh":
"trần gian hé nụ mênh mông
hồn sương ngây dại thoát vòng luân chiêu
làm sao xoá hết mây chiều
cho cơn mưa tạnh mắt yêu thoáng mừng"

Bài #23, Yêu Em Một Kiếp Người Không Đủ:
"yêu em ta vẫn người tình cũ
nắm chặt tay mềm xoá vận tu
mây ngả hoàng hôn về mộng ngủ
sóng sông va tối ướt hồn như"

Bài #20, Cảm Ơn Em":
"cảm ơn em một cõi đời ân ái
cụm hoa nghiêng rừng nhớ khách thiên thai
hôn thật nhẹ gió mừng duyên suối lạ
nơi cùng em ngấm lịm mỗi thiết tha"

Bài #17, "Mộng Trong Mộng":
"mộng là mộng và em là nguồn hẹn
mộng ban ngày hay mộng cả ban đêm
ta hỏi lại cho rõ ràng nguyên vẹn
để mỗi khi khép mộng tóc em mềm"

Bài #11. "Nhìn Em":
"nhìn em nốt nhạc nhậy buồn
cung si chưa hẳn cội nguồn biệt canh
triệu hân phố xá mong manh
tay hơ nắng vụn chia quanh đường cùng"

Trong bài phỏng vấn của nhà văn Hồ Trường An với thi nhân hay người thơ Lưu Nguyễn Đạt, bài cho nhiều chi tiết về ông, xin xem link sau;

Như trên đã trình bày, nhà thơ Lưu Nguyễn Đạt yêu văn chương và ông không những thưởng ngọan văn học nghệ thuật mà còn thực hành nhiều bộ môn trong lãnh vực này nữa. Bài viết này đã gom góp thơ, cô đọng nhiều về đề tài thơ của Lưu thi sĩ. Ông viết bài bình luận thi ca. Tôi xem bài bình luận "De la poésie". Ông ghi nhận hiệu năng của thơ trong cuộc sống.

Bàn luận về thi ca, nó được hồi sinh bởi những cảm xúc mạnh mẽ khác nhau do sự tiếp cận của nhà thơ. Thơ tình diễn tả dù niềm vui và nỗi buồn, nó thẩm thấu vào cuộc sống và nó làm thăng hoa cuộc đời lên gấp đôi như con sông phản ảnh nụ cười và hơi thở được tan loãng vào làn sóng phù vân. Đối với thi ca, thơ có thể thay đổi màu đại dương huyền bí, thanh tao, trong sự nhận thấy và tâm hồn linh hoạt đựợc phản ảnh [1] của nhà thơ. Vì vậy tình yêu được hé lộ trong một ngôn ngữ kỳ bí, chuyển đổi thơ sang ánh sáng huyền diệu của buổi rạng đông quên bẵng đi thời gian, trong quá khứ và tương lai, giữa các tia sáng cuối cùng của ánh nắng thái dương và lấp lánh trong đêm khuya, khi thiên nhiên được cô đọng trong sự tĩnh lặng, và rồi khi lời thơ thái quá sẽ tự nó mất đi hồn thơ nguyên thủy.

[1] ý nói sự tương phản phản chiếu, mises en abyme, do hệ quả mà theo nhà văn André Gide, hiệu quả của gương phản chiếu phát sinh ra ảnh thứ hai, trong văn chương, một câu truyện lồng trong câu truyện, ý nói truyện sinh ra từ truyện.


Có lẽ lời kết của bài "De la poésie", xin được thay cho lời cuối cùng chia tay nhau, văn bất tận ngôn, ngôn bất tận ý; Thật vậy, văn chương nói hoài vẫn còn hoài mà thôi.
"Thi ca có vũ trụ riêng của nó, của tâm hồn con người trong thời gian giới hạn luân hồi của sự sáng tạo phổ quát, ngược lại những giới hạn của bài nói chuyện mang tính cách thực hành và truyền thống, vượt ra ngoài sự hồi tưởng của những huyền thoại cổ xưa và sự quên lãng do gom góp lại. Thi ca mở đường hướng về sự bao la hư vô và mang đức tin cho mưu cầu vô tận, được phát triển ở nhiều chiều sâu để tìm về nguồn gốc nguyên thủy và xuất xứ của thời gian và không gian quan yếu. Nó mang niềm hy vọng trong nỗi tuyệt vọng.
Do đó thi ca là nhằm giới thiệu cái bản chất và cái thực tế độc đáo có điều kiện nhân bản." (De la poésie, Lưu Nguyễn Đạt, xem "b").
(Viet Hai Los Angeles )
__________

a/ Những Nhận Định Về Hồi Âm của GS Vũ Quốc Thúc- LS. Lưu Nguyễn Đạt:
http://letungchau.blogspot.com/2011/11/nhung-nhan-inh-ve-hoi-am-cua-gs-vu-quoc.html
b/  De la poésie, Lưu Nguyễn Đạt:

From e-mail VHLA